Một người đã lập di chúc để lại nhà đất cho các con, nhưng vài năm sau thay đổi ý định và muốn lập một bản di chúc khác. Khi đó, câu hỏi thường gặp là: “Muốn lập di chúc mới có bắt buộc phải hủy di chúc cũ trước không?”, “Nếu không hủy thì sau khi mất Tòa án sẽ căn cứ vào bản nào?”, “Di chúc mới chỉ thay đổi một phần thì phần còn lại của di chúc cũ có còn hiệu lực không?” hay “Di chúc cũ đã công chứng thì muốn lập di chúc mới có phải quay lại đúng văn phòng công chứng cũ để hủy hay không?”.
Đây là vấn đề tưởng đơn giản nhưng lại là nguyên nhân của không ít tranh chấp thừa kế. Có gia đình sau khi bố mẹ mất mới phát hiện trong tủ có một bản di chúc viết tay, tại tổ chức hành nghề công chứng lại lưu một bản di chúc khác được lập sau đó. Thậm chí có trường hợp người để lại di sản lập ba, bốn bản di chúc vào những thời điểm khác nhau, mỗi bản lại phân chia tài sản theo một cách. Điều quan trọng cần khẳng định ngay là: Pháp luật không bắt buộc một người phải làm thủ tục hủy di chúc cũ trước thì mới được quyền lập di chúc mới. Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Tuy nhiên, “không bắt buộc phải hủy” không có nghĩa là cứ lập thêm một bản di chúc mới thì toàn bộ di chúc cũ tự động biến mất trong mọi trường hợp. Hiệu lực của từng bản phải được xem xét dựa trên nội dung, thời điểm lập, phạm vi tài sản được định đoạt và ý chí của người lập di chúc. Vậy lập di chúc mới có làm di chúc cũ hết hiệu lực không? Nếu hai di chúc cùng định đoạt một mảnh đất thì áp dụng bản nào? Nếu di chúc mới chỉ nói về một tài sản thì những tài sản trong di chúc cũ xử lý ra sao? Làm thế nào để lập di chúc mới mà hạn chế tối đa tranh chấp sau này? Luật Công Tâm phân tích cụ thể dưới đây.
Người đã lập di chúc có quyền thay đổi ý định hay không?
Có. Đây là quyền của người lập di chúc. Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Bản chất của di chúc là ý chí đơn phương của chính người có tài sản, vì vậy trong thời gian còn sống và còn đủ điều kiện nhận thức, làm chủ hành vi, người lập di chúc không bị ràng buộc vĩnh viễn bởi ý chí đã thể hiện trước đó. Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rất rõ: người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.
Ví dụ, năm 2020 ông A lập di chúc để lại toàn bộ một căn nhà cho người con trai cả. Đến năm 2026, do hoàn cảnh gia đình thay đổi, ông A muốn chia căn nhà cho cả ba người con. Pháp luật không bắt ông A phải tiếp tục thực hiện ý chí năm 2020. Ông có quyền lập một di chúc mới thể hiện mong muốn hiện tại của mình.
Tương tự, một người từng để lại toàn bộ tài sản cho các con nhưng sau đó muốn dành một phần tài sản cho người đã trực tiếp chăm sóc mình cũng có quyền thay đổi nội dung di chúc nếu đáp ứng điều kiện pháp luật. Điều này xuất phát từ nguyên tắc rất quan trọng: di chúc chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức về nguyên tắc là thời điểm người có tài sản chết theo Điều 611 và Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015. Khi người lập di chúc vẫn còn sống, người được ghi tên trong di chúc chưa vì thế mà trở thành chủ sở hữu tài sản và cũng không có quyền ngăn cản người lập di chúc thay đổi ý định. Do đó, việc một người con đang giữ bản di chúc mà bố đã lập cho mình không đồng nghĩa người bố không thể lập một bản khác sau này.
Lập di chúc mới có bắt buộc phải hủy di chúc cũ không?
Câu trả lời là KHÔNG BẮT BUỘC. Điều 640 BLDS 2015 cho phép người lập di chúc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. Đáng chú ý, khoản 3 Điều 640 quy định. “Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.” Như vậy, nếu người lập di chúc xác lập một di chúc mới nhằm thay thế di chúc trước, pháp luật xác định di chúc trước bị hủy bỏ. Không có quy định chung bắt buộc phải hoàn thành một thủ tục hủy di chúc cũ rồi mới được phép lập bản mới.
Ví dụ, năm 2022 bà B lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản cho hai người con. Năm 2026, bà lập một di chúc mới và thể hiện rõ: “Di chúc này thay thế toàn bộ di chúc tôi đã lập trước đây.” Nếu di chúc năm 2026 hợp pháp thì ý chí mới này là căn cứ quan trọng để xác định việc thay thế di chúc cũ.
Do đó, quan niệm “phải mang bản di chúc cũ đi hủy rồi mới được lập bản mới” là không chính xác nếu hiểu đây là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, về mặt thực tế, việc không xử lý rõ mối quan hệ giữa di chúc mới và di chúc cũ có thể tạo ra rủi ro. Nếu di chúc mới không ghi rằng nó thay thế di chúc trước, nội dung hai bản lại chỉ khác nhau ở một số tài sản hoặc một số người được hưởng di sản thì sau khi người lập di chúc chết, các bên có thể tranh luận rằng bản sau chỉ bổ sung, sửa đổi một phần, chứ không hủy toàn bộ bản trước. Vì vậy, dù pháp luật không bắt buộc phải hủy di chúc cũ trước khi lập di chúc mới, nếu ý chí thực sự là loại bỏ toàn bộ bản cũ thì nên thể hiện điều đó một cách rõ ràng trong bản mới.
Có nhiều bản di chúc thì bản nào có hiệu lực?
Đây là quy định quan trọng nhất khi xảy ra tranh chấp. Khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.”
Ví dụ, ông C có một thửa đất 300 m². Năm 2018, ông lập di chúc để toàn bộ thửa đất cho con trai C1. Năm 2022, ông tiếp tục lập di chúc đối với chính thửa đất đó, chia một nửa cho C1 và một nửa cho C2. Năm 2025, ông lại lập một bản di chúc khác để toàn bộ thửa đất cho C3.
Nếu cả ba bản đều liên quan đến cùng một tài sản và bản năm 2025 là bản di chúc sau cùng, đáp ứng đầy đủ điều kiện hợp pháp thì về nguyên tắc, đối với thửa đất đó, bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Tuy nhiên, đừng hiểu quy định này thành công thức máy móc rằng cứ tìm được tờ giấy có ngày tháng mới nhất thì toàn bộ giấy tờ trước đó đều vô nghĩa. Trước tiên phải xác định bản sau có thực sự là di chúc hợp pháp hay không. Nếu bản mới được lập trong thời điểm người lập di chúc không còn minh mẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều kiện về hình thức trong trường hợp pháp luật yêu cầu thì hiệu lực của bản đó có thể bị tranh chấp. Tiếp theo phải xác định các bản di chúc có cùng định đoạt một tài sản hay không. Khoản 5 Điều 643 đặt trọng tâm vào trường hợp có nhiều bản di chúc đối với một tài sản. Nếu các bản định đoạt những tài sản khác nhau thì không thể đơn giản lấy bản có ngày mới nhất để xóa bỏ tất cả nội dung của những bản trước. Đây chính là điểm thường phát sinh tranh chấp trong thực tế.
Di chúc mới chỉ thay đổi một phần thì di chúc cũ có còn giá trị không?
Khoản 2 Điều 640 BLDS 2015 quy định trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau. Nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn với nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. Quy định này cho thấy pháp luật không phải lúc nào cũng áp dụng nguyên tắc “có bản mới là xóa sạch bản cũ”. Phải xác định ý chí thực sự của người lập di chúc là bổ sung, sửa đổi hay thay thế toàn bộ.
Ví dụ, năm 2020 ông D lập di chúc gồm hai nội dung: căn nhà ở Hà Nội để lại cho con trai; thửa đất tại Nghệ An để lại cho con gái. Năm 2025 ông lập thêm văn bản thể hiện ý chí thay đổi người nhận căn nhà Hà Nội từ con trai sang người vợ, nhưng không đề cập gì đến thửa đất Nghệ An.
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, không nên lập tức kết luận rằng văn bản năm 2025 đương nhiên làm mất toàn bộ hiệu lực của di chúc năm 2020. Cần xem nội dung văn bản mới có thể hiện ý chí thay thế toàn bộ di chúc cũ hay chỉ điều chỉnh việc định đoạt căn nhà Hà Nội. Đây là lý do khi lập di chúc mới, câu chữ phải đặc biệt rõ ràng. Nếu muốn hủy toàn bộ di chúc trước thì nên thể hiện rõ: di chúc mới thay thế toàn bộ các di chúc đã lập trước đó. Nếu chỉ muốn sửa một phần thì nên chỉ rõ điều khoản hoặc tài sản nào được thay đổi và phần nào của di chúc trước vẫn được giữ nguyên. Việc ghi rõ như vậy có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ các con phải tranh luận tại Tòa án sau này về câu hỏi: “Bố chỉ đổi phần đất này hay đã hủy toàn bộ di chúc cũ?”
Di chúc cũ đã công chứng thì có bắt buộc phải hủy tại nơi công chứng cũ không?
Không nên hiểu rằng một bản di chúc đã được công chứng sẽ “khóa” quyền thay đổi ý chí của người lập di chúc. Bộ luật Dân sự vẫn bảo đảm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc. Việc bản di chúc trước được công chứng không làm mất quyền này. Theo pháp luật công chứng hiện hành, người đã yêu cầu công chứng di chúc có thể yêu cầu công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc theo thủ tục luật định. Khi lựa chọn phương án công chứng, việc xử lý hồ sơ nên tuân thủ quy định của Luật Công chứng đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện. Về thực tế, nếu một bản di chúc cũ đã được công chứng và người lập di chúc muốn thay đổi hoàn toàn nội dung, phương án an toàn là thông báo đầy đủ cho công chứng viên về sự tồn tại của bản di chúc trước, xuất trình bản cũ nếu còn giữ và thể hiện rõ ý chí đối với bản cũ trong văn bản mới. Không nên cố tình giấu việc đã từng lập di chúc.
Ví dụ, một người đã lập di chúc công chứng năm 2021 nhưng năm 2026 lại đến một tổ chức hành nghề công chứng khác để lập bản mới. Việc lựa chọn tổ chức khác không tự nó làm bản di chúc mới vô hiệu. Vấn đề cốt lõi vẫn là điều kiện hợp pháp của di chúc và ý chí thay thế, sửa đổi hoặc bổ sung được thể hiện như thế nào.
Đối với tài sản giá trị lớn như nhà, đất, việc lập di chúc mới một cách rõ ràng và có hồ sơ chứng minh tình trạng minh mẫn của người lập di chúc trong trường hợp cần thiết thường có giá trị phòng ngừa tranh chấp rất lớn.
Lập di chúc mới thế nào để không phát sinh tranh chấp?
Một bản di chúc mới tốt không chỉ cần “đúng mẫu” mà phải thể hiện chính xác ý chí và tình trạng pháp lý của tài sản. Trước hết, cần kiểm tra toàn bộ các di chúc đã lập trước đây. Người lập di chúc phải quyết định rõ mình muốn giữ lại một phần, sửa đổi một phần hay thay thế toàn bộ. Nếu muốn thay thế toàn bộ, nên ghi rõ trong di chúc mới rằng kể từ việc lập di chúc này, người lập di chúc hủy bỏ hoặc thay thế các di chúc trước liên quan đến khối tài sản được định đoạt, với cách diễn đạt phù hợp với ý chí thực tế.
Tiếp theo phải mô tả tài sản chính xác. Nếu là quyền sử dụng đất thì nên xác định số thửa, tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích, thông tin Giấy chứng nhận và đặc biệt phải kiểm tra tài sản đó có thực sự thuộc quyền định đoạt của người lập di chúc hay không. Một người không thể lập di chúc định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của người khác.
Ví dụ, căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nhưng người chồng lập di chúc ghi “để lại toàn bộ căn nhà cho con trai”. Khi người chồng chết, về nguyên tắc chỉ phần tài sản thuộc quyền của người chồng mới có thể trở thành di sản để thực hiện theo di chúc; phần tài sản thuộc quyền của người vợ không tự nhiên trở thành di sản của chồng.
Ngoài ra, cần lưu ý đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 BLDS 2015. Trong những trường hợp luật định, dù người lập di chúc không cho họ hưởng hoặc cho hưởng ít hơn mức luật định thì họ vẫn có thể được hưởng phần di sản bắt buộc, trừ những ngoại lệ pháp luật quy định. Vì vậy, lập di chúc mới không chỉ là viết “tôi cho ai tài sản nào”, mà cần kiểm tra toàn bộ cấu trúc pháp lý của khối di sản.
Khi nào di chúc mới có nguy cơ bị tuyên không hợp pháp?
Bản di chúc mới hơn chưa chắc đã có giá trị nếu chính bản đó không đáp ứng điều kiện hợp pháp. Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một di chúc hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện cơ bản, trong đó người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Nội dung của di chúc không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức không được trái quy định của luật. Đây là vấn đề thường xảy ra khi người cao tuổi lập di chúc mới vào giai đoạn cuối đời.
Ví dụ, bố đã có một bản di chúc công chứng năm 2018 chia tài sản tương đối đều cho các con. Đến năm 2025, khi sức khỏe suy giảm nghiêm trọng, một người con đưa bố đi lập bản mới để lại gần như toàn bộ tài sản cho mình. Sau khi bố mất, những người còn lại có thể đặt vấn đề về tình trạng nhận thức, sự tự nguyện và quá trình lập di chúc năm 2025.
Khi đó, việc bản 2025 có ngày tháng sau bản 2018 chưa đủ để kết luận tranh chấp. Tòa án có thể phải xem xét hồ sơ bệnh án, người làm chứng, tài liệu công chứng, chữ viết, chữ ký, hoàn cảnh lập di chúc và các chứng cứ khác để xác định bản sau có hợp pháp hay không. Vì vậy, đối với người cao tuổi, đang điều trị bệnh hoặc gia đình đã có mâu thuẫn về tài sản, việc lập di chúc nên được thực hiện minh bạch và có chứng cứ tốt về năng lực nhận thức, sự tự nguyện để hạn chế việc di chúc bị tranh chấp sau này.
Sau khi người lập di chúc mất, gia đình phát hiện nhiều bản di chúc thì xử lý thế nào?
Không nên tự ý chọn bản có lợi cho mình rồi bỏ qua các bản còn lại. Trước tiên cần thu thập toàn bộ di chúc, xác định ngày lập, hình thức, tài sản được định đoạt và nội dung cụ thể của từng bản. Sau đó lập bảng đối chiếu để xác định phần nào giống nhau, phần nào mâu thuẫn và có bản nào thể hiện rõ ý chí thay thế bản trước hay không. Tiếp theo, phải kiểm tra tính hợp pháp của từng bản theo Điều 630 BLDS. Một bản di chúc được lập sau nhưng không hợp pháp không thể chỉ dựa vào ngày lập để đương nhiên loại bỏ mọi tranh luận về bản trước. Đối với cùng một tài sản, cần áp dụng khoản 5 Điều 643 BLDS: nếu một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực, với điều kiện bản di chúc đó đáp ứng các yêu cầu pháp luật.
Nếu các bản di chúc điều chỉnh những tài sản khác nhau hoặc bản sau chỉ bổ sung, sửa đổi một phần thì cần áp dụng đồng thời Điều 640 để xác định phần nào của bản trước còn hiệu lực. Trong trường hợp các đồng thừa kế thống nhất được cách hiểu và việc phân chia thì có thể thực hiện thủ tục thừa kế theo quy định. Nhưng nếu một bên cho rằng di chúc mới giả mạo, người lập không minh mẫn hoặc bị ép buộc, trong khi bên khác yêu cầu chia theo bản mới thì tranh chấp có thể phải được giải quyết tại Tòa án. Khi đó, người đưa ra yêu cầu và phản đối phải chuẩn bị chứng cứ tương ứng, chứ không thể chỉ dựa vào việc mình đang giữ bản di chúc gốc.
Có nên ghi rõ việc hủy bỏ di chúc cũ trong di chúc mới?
Nên, nếu ý chí thực tế là thay thế toàn bộ di chúc cũ. Đây không phải điều kiện bắt buộc để mọi di chúc mới có hiệu lực, nhưng là một biện pháp phòng ngừa tranh chấp rất hiệu quả. Thay vì chỉ viết một bản mới với nội dung khác, người lập di chúc có thể thể hiện rõ rằng bản di chúc mới được lập nhằm thay thế toàn bộ bản hoặc các bản di chúc trước đây, đồng thời xác định ngày lập của bản cũ nếu nhớ và có tài liệu. Nếu chỉ sửa một phần, cũng nên ghi rõ: nội dung nào bị sửa, nội dung nào tiếp tục giữ nguyên.
Cách làm này giải quyết một trong những vấn đề lớn nhất của tranh chấp thừa kế: xác định ý chí cuối cùng của người đã chết. Bởi khi người lập di chúc còn sống, việc hỏi họ “bác muốn bản nào có hiệu lực?” rất đơn giản. Nhưng khi tranh chấp xảy ra thì người có câu trả lời chính xác nhất lại không còn nữa. Tòa án chỉ có thể tái dựng ý chí của họ thông qua tài liệu và chứng cứ để lại. Do đó, một câu xác định rõ quan hệ giữa di chúc mới và di chúc cũ đôi khi có thể giúp gia đình tránh được nhiều năm kiện tụng.
KẾT LUẬN
Khi lập di chúc mới, pháp luật không bắt buộc phải thực hiện một thủ tục hủy di chúc cũ trước rồi mới được lập di chúc mới. Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 trao cho người lập di chúc quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc bất cứ lúc nào. Đặc biệt, nếu người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ. Đồng thời, khoản 5 Điều 643 BLDS 2015 quy định trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Tuy nhiên, không nên hiểu rằng cứ xuất hiện một bản di chúc có ngày mới hơn thì toàn bộ các bản cũ tự động mất giá trị trong mọi trường hợp. Cần xem xét di chúc mới có hợp pháp không; nó thay thế toàn bộ hay chỉ sửa đổi, bổ sung một phần; các bản di chúc có cùng định đoạt một tài sản hay không.
Vì vậy, nếu muốn lập di chúc mới để thay thế hoàn toàn bản cũ, phương án an toàn là thể hiện rõ ngay trong di chúc mới rằng bản này thay thế các di chúc trước, đồng thời mô tả chính xác tài sản và bảo đảm đầy đủ điều kiện hợp pháp tại thời điểm lập. Đặc biệt, đối với nhà đất có giá trị lớn, người lập di chúc tuổi cao, đang điều trị bệnh hoặc gia đình đã xuất hiện mâu thuẫn, việc chuẩn bị hồ sơ chặt chẽ ngay khi lập di chúc có ý nghĩa rất lớn. Chi phí và thời gian để lập một bản di chúc rõ ràng luôn nhỏ hơn rất nhiều so với một vụ kiện thừa kế kéo dài nhiều năm. Di chúc không chỉ cần thể hiện đúng ý chí hôm nay, mà còn phải đủ rõ để sau này những người ở lại không phải tranh cãi xem ý chí cuối cùng của người đã mất thực sự là gì.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
📧 Email: [email protected]
