“Chuyển tiền xong thì người bán chặn liên lạc”, “góp vốn đầu tư nhưng dự án không có thật”, “đặt cọc mua đất rồi phát hiện một mảnh đất đã nhận tiền của nhiều người”, “vay tiền nhưng đến hạn không trả”… Đây là những tình huống rất dễ khiến người bị thiệt hại cho rằng mình đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, không phải cứ nhận tiền rồi không trả, không thực hiện cam kết hoặc làm người khác mất tiền thì đương nhiên phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điểm đặc trưng của tội này là thủ đoạn gian dối phải có mối quan hệ trực tiếp với việc người bị hại giao tài sản. Nói cách khác, người phạm tội đưa ra thông tin sai sự thật hoặc che giấu sự thật nhằm làm người có tài sản tin tưởng và giao tài sản, qua đó thực hiện mục đích chiếm đoạt.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung. Bộ luật Hình sự tiếp tục được sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Để xác định một vụ việc là lừa đảo, tranh chấp dân sự hay một tội danh khác, không nên chỉ nhìn vào kết quả “mất tiền”. Cần dựng lại toàn bộ diễn biến từ trước khi giao tài sản, tại thời điểm giao tài sản và sau khi tài sản đã được chuyển giao.
Thế nào là lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu thuộc một trong những trường hợp đặc biệt mà khoản 1 Điều 174 quy định, chẳng hạn đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm hoặc thuộc trường hợp luật định khác.
Dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm này là “thủ đoạn gian dối”. Có thể hiểu đây là việc người thực hiện đưa ra thông tin không đúng sự thật, tạo dựng hoàn cảnh giả hoặc che giấu thông tin có ý nghĩa quyết định khiến chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản hiểu sai sự việc, từ đó tự nguyện giao tài sản. Thủ đoạn có thể rất đơn giản như giả danh người quen để vay tiền, nhưng cũng có thể được chuẩn bị công phu bằng hợp đồng, giấy tờ giả, dự án không có thật, tài khoản mạng xã hội, doanh nghiệp hoặc nhiều người cùng tham gia.
Ví dụ, A biết rõ mình không phải chủ sở hữu một mảnh đất và không có quyền chuyển nhượng nhưng làm giả tài liệu, nói với B rằng đất thuộc quyền sử dụng của mình, sau đó nhận của B 500 triệu đồng tiền đặt cọc rồi chiếm đoạt. Nếu chứng minh được ngay từ đầu A đã biết mình không có quyền đối với đất nhưng cố tình tạo thông tin giả để B tin tưởng giao tiền thì đây là dấu hiệu điển hình cần xem xét theo Điều 174.
Ngược lại, nếu A thực sự có đất, hai bên ký hợp đồng đặt cọc hợp pháp nhưng sau đó phát sinh tranh chấp về điều kiện chuyển nhượng, tiến độ thanh toán hoặc một bên vi phạm nghĩa vụ thì việc A phải hoàn trả tiền chưa đủ để kết luận A lừa đảo. Đây là ranh giới rất quan trọng giữa trách nhiệm hình sự và tranh chấp dân sự.
Dấu hiệu quan trọng nhất: gian dối phải có trước hoặc gắn với thời điểm nhận tài sản
Trong thực tiễn, thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối về nguyên tắc phải là nguyên nhân khiến người bị hại tin tưởng và giao tài sản. Vì vậy, khi giải quyết một vụ việc, câu hỏi đầu tiên không nên là “sau khi nhận tiền người đó đã làm gì?” mà phải là “trước khi nhận tiền, người đó đã nói gì và những thông tin đó có đúng sự thật hay không?”.
Ví dụ, A nói với B rằng mình cần vay 300 triệu đồng để nhập một lô hàng. Thực tế tại thời điểm vay, A thực sự đang kinh doanh, có hoạt động nhập hàng, có khả năng tài chính và có ý định hoàn trả. Sau đó việc kinh doanh thua lỗ khiến A mất khả năng thanh toán. Chỉ riêng việc A không trả được tiền đúng hạn chưa chứng minh A đã lừa đảo ngay từ đầu. Ngược lại, nếu ngay từ trước khi vay A không hề kinh doanh, dựng lên hợp đồng mua hàng giả, đưa ảnh kho hàng của người khác cho B xem nhằm tạo lòng tin để B chuyển 300 triệu đồng rồi sử dụng tiền cho mục đích cá nhân và chiếm đoạt thì bản chất pháp lý hoàn toàn khác.
Do đó, hành vi sau khi nhận tiền như tắt điện thoại, chuyển nơi ở, chặn mạng xã hội, không trả tiền hoặc đưa ra nhiều lý do trì hoãn là những dữ kiện cần xem xét nhưng không nên được sử dụng riêng lẻ để suy ra Tội lừa đảo. Muốn chứng minh Điều 174, cần đặt những dữ kiện này trong toàn bộ chuỗi hành vi, đặc biệt là thông tin gian dối trước khi tài sản được giao. Đây cũng là điểm được nhấn mạnh trong các phân tích pháp lý hiện hành về Điều 174: việc mất tiền hoặc vi phạm cam kết chưa đủ, mà phải chứng minh gian dối gắn với quyết định giao tài sản.
Vay tiền không trả, nhận tiền đặt cọc rồi không thực hiện hợp đồng có phải lừa đảo không?
Không thể kết luận chỉ dựa vào việc “không trả tiền”.
Trong quan hệ vay tài sản, bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và quy định của Bộ luật Dân sự. Nếu đến hạn không trả thì trước hết đây có thể là hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự. Người cho vay có quyền yêu cầu thanh toán, tính lãi trong phạm vi pháp luật cho phép và khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ. Muốn chuyển từ quan hệ dân sự sang trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phải có căn cứ chứng minh người vay đã sử dụng thủ đoạn gian dối để người cho vay giao tiền.
Tương tự, trong quan hệ đặt cọc, việc bên nhận cọc không ký hợp đồng chuyển nhượng đất, không giao nhà hoặc không hoàn thành giao dịch chưa đương nhiên cấu thành lừa đảo. Cần kiểm tra tại thời điểm nhận cọc, người đó có quyền đối với tài sản hay không, có cố tình cung cấp thông tin sai sự thật không, có nhận cọc của nhiều người đối với cùng một tài sản không, tài sản có thực sự tồn tại không và mục đích thực tế của việc nhận tiền là gì.
Ví dụ, chủ đất nhận 200 triệu đồng đặt cọc nhưng sau đó đổi ý không bán. Đây có thể là căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm thỏa thuận đặt cọc nhưng chưa đủ để xác định lừa đảo. Ngược lại, một người không có đất nhưng lấy hình ảnh và giấy tờ của người khác, tự nhận mình là chủ đất, đưa khách đến xem đất rồi nhận 200 triệu đồng và biến mất thì yếu tố gian dối đã xuất hiện trước khi tiền được giao.
Đặc biệt, cũng phải phân biệt Điều 174 với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật Hình sự. Điều 175 điều chỉnh những trường hợp nhất định mà người thực hiện ban đầu nhận tài sản thông qua vay, mượn, thuê hoặc hình thức hợp đồng, sau đó có hành vi chiếm đoạt theo các dấu hiệu luật định. Vì vậy, “gian dối để người khác giao tài sản ngay từ đầu” và “nhận tài sản hợp pháp rồi sau đó phát sinh hành vi chiếm đoạt” là hai hướng pháp lý cần được phân biệt.
Lừa đảo bao nhiêu tiền thì bị khởi tố và có thể bị phạt bao nhiêu năm tù?
Điều 174 Bộ luật Hình sự xác định các khung trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt và một số tình tiết định khung khác. Theo quy định hiện hành, trường hợp chiếm đoạt từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thuộc khoản 1 nếu không có tình tiết làm chuyển sang khung nặng hơn; hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 1.
Khoản 2 Điều 174 quy định mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với các trường hợp như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, chiếm đoạt từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức, dùng thủ đoạn xảo quyệt. Khoản 3 quy định mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với trường hợp chiếm đoạt từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Khung hình phạt cao nhất được quy định tại khoản 4 Điều 174: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 174. Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự năm 2025 hiện thể hiện mức phạt bổ sung có thể là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, số tiền bị chiếm đoạt rất quan trọng nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định hình phạt. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xem xét phương thức thực hiện, số người tham gia, vai trò của từng người, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, việc khắc phục hậu quả và các yếu tố khác theo Bộ luật Hình sự.
Những thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường gặp hiện nay
Thủ đoạn lừa đảo ngày càng đa dạng, đặc biệt khi giao dịch được thực hiện qua mạng xã hội và tài khoản ngân hàng. Có trường hợp giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, công an, viện kiểm sát, ngân hàng hoặc người quen để yêu cầu chuyển tiền; có trường hợp lập tài khoản bán hàng rồi nhận tiền nhưng không có hàng; cũng có trường hợp dựng dự án đầu tư, dự án bất động sản hoặc cơ hội kinh doanh không có thật để huy động tiền.
Trong giao dịch đất đai, thủ đoạn thường phức tạp hơn vì người bị hại có thể được xem đất, ký hợp đồng và nhận giấy tờ. Vấn đề phải kiểm tra là người nhận tiền có thực sự có quyền định đoạt đất hay không; giấy tờ có thật không; đất có đang bị thế chấp, tranh chấp hoặc đã chuyển nhượng cho người khác hay không; một tài sản có được sử dụng để nhận tiền của nhiều người không. Việc tồn tại một hợp đồng dân sự không tự động loại trừ trách nhiệm hình sự nếu hợp đồng chỉ là phương tiện để thực hiện hành vi gian dối.
Đối với hình thức kêu gọi đầu tư, cần kiểm tra dự án có thật hay không, tiền có được sử dụng đúng mục đích cam kết không, lợi nhuận được giới thiệu dựa trên hoạt động kinh doanh thực tế hay lấy tiền của người sau trả cho người trước, người huy động có che giấu tình trạng tài chính hoặc dựng tài liệu giả để tạo niềm tin hay không. Chính những chứng cứ về giai đoạn trước khi chuyển tiền thường có giá trị quyết định trong việc chứng minh thủ đoạn gian dối.
Phân biệt lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hai tội danh này rất dễ bị nhầm lẫn vì kết quả cuối cùng đều có thể là một người giao tài sản cho người khác rồi không lấy lại được.
Điểm phân biệt quan trọng nằm ở cách thức và thời điểm hình thành hành vi chiếm đoạt. Với lừa đảo, thủ đoạn gian dối là phương thức làm cho người có tài sản tin tưởng và giao tài sản. Ví dụ, giả làm chủ đất để nhận tiền bán đất. Người bị hại giao tiền vì đã tin vào thông tin giả.
Trong khi đó, Điều 175 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản điều chỉnh các trường hợp người thực hiện nhận tài sản thông qua vay, mượn, thuê hoặc hợp đồng rồi sau đó thực hiện một trong những hành vi luật định để chiếm đoạt, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại. Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự năm 2025 tiếp tục thể hiện sự phân biệt này giữa Điều 174 và Điều 175.
Ví dụ, A dựng thông tin giả về một lô hàng ngay từ đầu để B cho vay 500 triệu đồng thì có thể xem xét theo hướng Điều 174. Nhưng nếu A ban đầu vay tiền trên cơ sở một giao dịch thực tế, sau đó mới thực hiện hành vi thuộc các dấu hiệu của Điều 175 nhằm chiếm đoạt thì hướng định tội có thể khác. Vì vậy, thời điểm xuất hiện ý thức chiếm đoạt là một trong những vấn đề phải chứng minh bằng chứng cứ chứ không thể chỉ suy đoán từ kết quả cuối cùng.
Có hợp đồng, giấy vay tiền thì có còn bị xử lý về tội lừa đảo không?
Một quan niệm khá phổ biến là “đã ký hợp đồng thì chỉ có thể kiện dân sự”. Cách hiểu này không chính xác. Hợp đồng chỉ phản ánh hình thức pháp lý của giao dịch; nếu người thực hiện sử dụng chính hợp đồng như một công cụ để tạo lòng tin và chiếm đoạt tài sản thì vẫn có thể phát sinh trách nhiệm hình sự nếu đủ dấu hiệu của Điều 174.
Ví dụ, A thành lập công ty, ký “hợp đồng hợp tác đầu tư” với nhiều người và cam kết đầu tư vào một dự án. Nhưng nếu chứng cứ cho thấy dự án hoàn toàn không tồn tại, các tài liệu về dự án bị làm giả, A biết rõ không có hoạt động đầu tư nhưng vẫn dùng hợp đồng để huy động tiền nhằm chiếm đoạt thì không thể chỉ căn cứ vào việc “hai bên có hợp đồng” để coi đây là tranh chấp dân sự.
Ngược lại, cũng không được hình sự hóa một quan hệ dân sự chỉ vì một bên vi phạm hợp đồng. Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, dự án chậm tiến độ, bên vay mất khả năng thanh toán hoặc bên bán không thực hiện đúng cam kết không tự động chứng minh ý thức lừa đảo. Muốn xử lý Điều 174 vẫn phải chứng minh thủ đoạn gian dối và mối quan hệ giữa thủ đoạn đó với việc giao tài sản.
Bị lừa đảo thì cần thu thập những chứng cứ gì?
Sai lầm lớn nhất của người bị hại là chỉ giữ chứng từ chuyển tiền rồi cho rằng như vậy đã đủ chứng minh lừa đảo. Chứng từ chuyển khoản chủ yếu chứng minh dòng tiền; nó chưa tự mình chứng minh vì sao tiền được chuyển và người nhận đã gian dối như thế nào.
Người bị hại cần lưu giữ toàn bộ tin nhắn, email, ghi âm hợp pháp, hợp đồng, giấy vay, giấy đặt cọc, hình ảnh, tài liệu quảng cáo, thông tin tài khoản mạng xã hội, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng và các giấy tờ mà người nhận tiền đã cung cấp. Đặc biệt phải giữ tài liệu chứng minh thông tin nào được đưa ra trước khi chuyển tiền và sau đó phát hiện thông tin đó là giả ở điểm nào.
Ví dụ, nếu tố giác người bán đất không thuộc quyền sử dụng của họ thì ngoài hợp đồng và chứng từ giao tiền, tài liệu về chủ sử dụng thực sự của thửa đất có giá trị rất lớn. Nếu tố giác dự án đầu tư không có thật thì cần thu thập tài liệu quảng cáo dự án, nội dung cam kết, hợp đồng đầu tư và tài liệu của cơ quan có thẩm quyền về tình trạng pháp lý của dự án.
Có thể hình dung hồ sơ theo chuỗi: Thông tin được đưa ra → căn cứ chứng minh thông tin đó gian dối → người bị hại tin tưởng → giao tiền hoặc tài sản → người nhận kiểm soát tài sản → hành vi sau khi nhận tài sản → thiệt hại và số tiền chưa thu hồi. Chuỗi chứng cứ càng đầy đủ thì việc phân biệt giữa lừa đảo và tranh chấp dân sự càng rõ ràng.
Bị lừa đảo thì tố giác ở đâu và có lấy lại được tiền không?
Khi có căn cứ cho rằng mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bị hại có thể tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Nội dung tố giác nên trình bày theo diễn biến thời gian, nêu rõ người bị tố giác đã đưa ra thông tin gian dối nào, vì sao người bị hại tin tưởng, tài sản được giao khi nào, bằng hình thức nào và sau đó phát hiện sự gian dối ra sao.
Mục tiêu của người bị hại không chỉ là xử lý hình sự người thực hiện hành vi mà còn là thu hồi tài sản. Vì vậy, nếu phát hiện tiền vừa được chuyển, tài sản đang được chuyển dịch hoặc có thông tin về tài khoản, bất động sản và tài sản khác liên quan, cần cung cấp ngay cho cơ quan giải quyết. Thời gian có thể đặc biệt quan trọng bởi tiền qua tài khoản ngân hàng có khả năng tiếp tục được chuyển sang nhiều tài khoản khác.
Việc khởi tố vụ án cũng không đồng nghĩa người bị hại chắc chắn lấy lại toàn bộ tiền. Khả năng thu hồi phụ thuộc vào việc xác minh dòng tiền, tài sản của người phạm tội, tài sản liên quan và các biện pháp tố tụng được áp dụng. Do đó, bảo vệ quyền lợi trong vụ án lừa đảo phải được nhìn trên hai hướng song song: chứng minh hành vi phạm tội và bảo vệ khả năng thu hồi, bồi thường tài sản.
Người bị tố cáo lừa đảo nhưng thực chất chỉ là tranh chấp dân sự cần làm gì?
Ở chiều ngược lại, một người bị tố giác không đồng nghĩa người đó đã phạm tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội yêu cầu trách nhiệm hình sự phải được chứng minh theo trình tự tố tụng. Nếu vụ việc thực chất là quan hệ vay, đầu tư, đặt cọc hoặc hợp đồng nhưng do nguyên nhân khách quan mà nghĩa vụ chưa được thực hiện thì cần cung cấp chứng cứ chứng minh bản chất thực tế của giao dịch.
Các tài liệu quan trọng có thể gồm hợp đồng, chứng từ sử dụng tiền đúng mục đích, tài liệu về hoạt động kinh doanh, lịch sử thanh toán, trao đổi về việc gia hạn nghĩa vụ, chứng cứ về khả năng tài chính tại thời điểm giao dịch và các khoản tiền đã hoàn trả. Những tài liệu này có thể giúp làm rõ rằng tại thời điểm nhận tài sản, người nhận không tạo dựng thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt.
Không nên chỉ giải trình rằng “đây là tranh chấp dân sự”. Phải chứng minh bằng dòng thời gian và tài liệu: giao dịch có thật → mục đích có thật → thông tin cung cấp tại thời điểm nhận tiền là đúng → tiền được sử dụng như thế nào → nguyên nhân không thực hiện được nghĩa vụ → quá trình khắc phục. Đây mới là cách phân tích trực tiếp vào yếu tố cấu thành của Điều 174.
Luật sư cần làm gì trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Đối với người bị hại, việc đầu tiên là dựng lại toàn bộ dòng thời gian và xác định chính xác thủ đoạn gian dối. Một đơn tố giác chỉ ghi “A vay tôi 500 triệu đồng rồi không trả, đề nghị xử lý về Tội lừa đảo” thường chưa thể hiện được vấn đề cốt lõi. Cần chỉ rõ A đã nói sai sự thật điều gì, tài liệu nào chứng minh điều đó là sai và chính thông tin đó đã khiến người bị hại giao tiền như thế nào.
Đối với người bị tố giác, luật sư cần kiểm tra ngược lại: có thực sự tồn tại thông tin gian dối trước thời điểm nhận tài sản không; người bị tố giác có khả năng thực hiện cam kết tại thời điểm giao dịch không; mục đích sử dụng tiền là gì; việc không trả được tiền phát sinh từ khi nào; có hành vi nào thể hiện ý thức chiếm đoạt hay không. Việc bào chữa phải tập trung vào dấu hiệu cấu thành chứ không thể chỉ dựa vào việc đã trả lại một phần tiền.
Luật Công Tâm có thể hỗ trợ rà soát hồ sơ, xác định dấu hiệu của Điều 174, phân biệt với Điều 175 và tranh chấp dân sự; xây dựng đơn tố giác, bản trình bày, tài liệu chứng minh; tham gia bảo vệ người bị hại hoặc bào chữa cho người bị buộc tội; đồng thời theo dõi vấn đề thu hồi tài sản, bồi thường và khắc phục hậu quả trong quá trình giải quyết vụ án.
Không phải cứ mất tiền là lừa đảo – phải chứng minh thủ đoạn gian dối dẫn đến việc giao tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể được nhận diện bằng một chuỗi logic pháp lý: Có thông tin gian dối → người bị hại tin thông tin đó → vì tin nên giao tài sản → người thực hiện nhận được tài sản → thực hiện mục đích chiếm đoạt.
Nếu thiếu mắt xích “gian dối làm cho người bị hại giao tài sản”, cần hết sức thận trọng trước khi kết luận Điều 174. Một người vay tiền rồi kinh doanh thua lỗ không đương nhiên là lừa đảo. Một người nhận đặt cọc rồi vi phạm hợp đồng cũng không đương nhiên là lừa đảo. Nhưng việc sử dụng giấy tờ giả, tài sản không thuộc quyền sở hữu, dự án không có thật, tư cách giả hoặc thông tin giả nhằm làm người khác tin tưởng và giao tiền có thể là những chứng cứ rất quan trọng để xác định thủ đoạn gian dối.
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự hiện hành, giá trị tài sản từ 2 triệu đồng đã có thể đạt ngưỡng truy cứu trong trường hợp thông thường; dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị xử lý nếu thuộc các trường hợp luật định. Tùy giá trị tài sản và tình tiết định khung, hình phạt có thể từ cải tạo không giam giữ đến tù chung thân.
Vì vậy, khi nghi ngờ bị lừa đảo, đừng chỉ tập trung chứng minh “tôi đã chuyển bao nhiêu tiền”. Câu hỏi quan trọng hơn phải là: Người đó đã nói gì trước khi tôi chuyển tiền → thông tin nào là giả → họ biết thông tin đó là giả hay không → vì sao tôi tin và giao tài sản → tiền sau đó được xử lý như thế nào? Đó mới là trọng tâm để xác định một vụ việc là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một tội danh khác hay chỉ là tranh chấp dân sự.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung, trọng tâm Điều 174 về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Điều 175 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Văn bản hợp nhất năm 2025 tiếp tục thể hiện Điều 174 với bốn khung trách nhiệm hình sự nêu trên.
Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung hiện hành được áp dụng đối với việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra, truy tố và xét xử.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
