Một người vay 300 triệu đồng từ năm 2020, đến hạn năm 2021 nhưng không trả. Đến năm 2026, bên cho vay mới tìm đến yêu cầu thanh toán. Người vay cho rằng khoản nợ đã hơn 3 năm nên “hết thời hiệu”, đồng nghĩa với việc được xóa nợ. Ngược lại, chủ nợ cho rằng đã vay tiền thì dù 5 năm, 10 năm hay 20 năm vẫn phải trả.
Đây là một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất khi nói về thời hiệu đối với khoản vay. Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, “hết thời hiệu khởi kiện” và “khoản nợ tự động được xóa” không phải là một khái niệm. Đặc biệt, thời hiệu còn có thể bắt đầu lại nếu người vay thừa nhận nợ, trả một phần nợ hoặc các bên tự hòa giải với nhau.
Vì vậy, câu hỏi “bao lâu thì được xóa nợ?” không thể trả lời đơn giản là 3 năm, 5 năm hay 10 năm. Muốn xác định chính xác phải xem khoản nợ phát sinh từ đâu, thời điểm nào nghĩa vụ trả nợ bị vi phạm, trong quá trình đó người vay có thừa nhận hoặc trả một phần hay không và quan trọng nhất là có bên nào yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu hay không.
Có phải nợ quá 3 năm thì tự động được xóa?
Không. Đây là điểm quan trọng nhất cần hiểu trước khi nói đến thời hiệu của khoản vay.
Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Trường hợp đến hạn nhưng không trả hoặc trả không đầy đủ thì còn có thể phát sinh trách nhiệm đối với khoản tiền chậm trả theo quy định pháp luật và thỏa thuận hợp pháp của các bên. Trong khi đó, Điều 429 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Hai quy định này phải được đọc cùng nhau. Thời hạn 03 năm tại Điều 429 là thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, không phải một quy định nói rằng “sau 03 năm khoản vay tự động biến mất”. Ví dụ, A vay B 200 triệu đồng, cam kết ngày 01/6/2022 trả toàn bộ nhưng đến ngày đó không trả. Từ thời điểm quyền đòi nợ bị xâm phạm, vấn đề thời hiệu khởi kiện bắt đầu được đặt ra. Nhưng nếu đến năm 2026 A tự nguyện thanh toán cho B thì không thể nói pháp luật cấm B nhận tiền vì “khoản nợ đã bị xóa”.
Do đó, cách diễn đạt “nợ quá 3 năm được xóa” rất dễ gây hiểu nhầm. Chính xác hơn phải nói: đối với tranh chấp hợp đồng vay, cần kiểm tra thời hiệu khởi kiện 03 năm theo Điều 429 và các quy định về áp dụng, bắt đầu lại hoặc khoảng thời gian không tính vào thời hiệu.
Thời hiệu 3 năm được tính từ ngày vay tiền hay ngày đến hạn trả?
Không phải cứ ký giấy vay ngày nào thì mặc nhiên cộng thêm 03 năm từ ngày đó.
Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định thời hiệu được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Vì vậy, với hợp đồng vay có thời hạn, mốc quan trọng thường gắn với thời điểm nghĩa vụ đến hạn nhưng người vay không thực hiện theo thỏa thuận. Ví dụ ngày 01/01/2022 A cho B vay 500 triệu đồng và hai bên thống nhất ngày 01/01/2024 mới phải trả. Trong thời gian khoản vay chưa đến hạn, về nguyên tắc không thể chỉ lấy ngày giao tiền 01/01/2022 rồi cho rằng đến đầu năm 2025 đã hết 03 năm.
Tình huống sẽ phức tạp hơn nếu giấy vay không ghi ngày trả hoặc các bên có thỏa thuận gia hạn nhiều lần. Bộ luật Dân sự có quy định riêng đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và vay có kỳ hạn tại Điều 469 và Điều 470. Vì vậy, trước khi xác định thời hiệu cần đọc chính xác nội dung giấy vay, tin nhắn, thỏa thuận bổ sung và quá trình các bên yêu cầu thanh toán. Không nên chỉ nhìn vào ngày viết giấy vay.
Trong thực tế tranh chấp, đây là điểm rất dễ sai. Có người vay từ năm 2019 nhưng đến năm 2024 mới đến hạn; cũng có người vay từ năm 2019 và đáng lẽ phải trả ngay trong năm đó. Hai trường hợp cùng “vay từ năm 2019” nhưng cách xác định thời điểm quyền lợi của chủ nợ bị xâm phạm có thể hoàn toàn khác nhau.
Hết 3 năm, chủ nợ có còn được nộp đơn khởi kiện không?
Một điểm rất quan trọng của pháp luật hiện hành là Tòa án không tự động áp dụng thời hiệu trong mọi trường hợp.
Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu áp dụng thời hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu còn có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Điều đó có nghĩa không nên hiểu rằng cứ nhìn thấy khoản vay đã quá 03 năm là Tòa án tự động tuyên “hết nợ”. Trong một vụ kiện cụ thể, còn phải xem thời hiệu thực sự đã hết hay chưa, có sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu không, có khoảng thời gian không tính vào thời hiệu không và đặc biệt người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có đưa ra yêu cầu đúng thời điểm hay không.
Đây là lý do một khoản vay từ rất lâu vẫn có thể phát sinh vụ kiện. Mốc thời gian trên giấy vay chỉ là điểm bắt đầu để kiểm tra chứ chưa phải kết luận cuối cùng.
Người vay nhắn tin “tôi sẽ trả” thì thời hiệu có thể tính lại từ đầu không?
Có thể. Đây là tình huống rất quan trọng mà cả chủ nợ và người vay thường bỏ qua.
Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại khi bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ; hoặc các bên đã tự hòa giải với nhau. Thời hiệu bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong các sự kiện này.
Ví dụ, A phải trả cho B 300 triệu đồng vào ngày 01/3/2022. Đến năm 2024, A nhắn tin: “Tôi xác nhận vẫn còn nợ anh 300 triệu, cho tôi thêm thời gian”. Đến năm 2025, A tiếp tục chuyển cho B 20 triệu đồng để trả bớt khoản nợ. Những tình tiết này rất quan trọng bởi chúng có thể là căn cứ để xác định người vay đã thừa nhận nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ, từ đó đặt ra việc bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157.
Do đó, chủ nợ không nên xóa tin nhắn, giấy hẹn trả tiền, chứng từ người vay chuyển tiền từng phần hoặc biên bản hai bên làm việc với nhau. Ngược lại, người vay cũng cần hiểu rằng một tin nhắn xác nhận “tôi còn nợ và sẽ trả” không đơn giản chỉ là lời hứa xã giao; trong tranh chấp, nó có thể trở thành chứng cứ quan trọng để xác định nghĩa vụ và thời hiệu.
Trả 5 triệu trong khoản nợ 500 triệu có làm thời hiệu bắt đầu lại không?
Không nên đánh giá khoản tiền trả nhỏ chỉ dựa vào tỷ lệ so với tổng số nợ. Điều 157 không đặt điều kiện rằng người vay phải trả một tỷ lệ tối thiểu bao nhiêu phần trăm thì thời hiệu mới bắt đầu lại; quy định đề cập đến trường hợp bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ.
Ví dụ, khoản nợ còn 500 triệu đồng nhưng sau một thời gian người vay chuyển 5 triệu đồng và nội dung trao đổi thể hiện rõ đây là tiền “trả bớt nợ”. Hành vi đó có ý nghĩa rất khác so với việc người vay chuyển 5 triệu đồng vì một giao dịch hoàn toàn độc lập. Tòa án sẽ phải xem xét chứng từ chuyển khoản, nội dung tin nhắn, lời khai và các chứng cứ khác để xác định bản chất khoản tiền.
Vì vậy, chủ nợ khi nhận tiền trả từng phần nên lưu giữ đầy đủ chứng từ và nội dung xác nhận khoản tiền được thanh toán cho nghĩa vụ nào. Trong những tranh chấp kéo dài nhiều năm, một chứng từ trả nợ nhỏ đôi khi lại là tài liệu đặc biệt quan trọng khi xem xét thời hiệu.
Chủ nợ nhiều năm không đòi thì người vay có đương nhiên được miễn trả nợ?
Không thể kết luận như vậy chỉ dựa vào việc chủ nợ im lặng.
Cần phân biệt giữa nghĩa vụ dân sự và khả năng yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền trong bối cảnh thời hiệu. Việc chủ nợ không gọi điện hoặc không đến nhà đòi tiền trong vài năm không tự nó tạo thành một quyết định “xóa nợ”. Nếu muốn xác định hậu quả pháp lý của việc thời gian đã kéo dài, phải kiểm tra Điều 429, Điều 149, Điều 154, Điều 156 và Điều 157 Bộ luật Dân sự.
Đặc biệt, Điều 156 còn quy định những khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, chẳng hạn có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể thực hiện quyền trong phạm vi thời hiệu, cùng một số trường hợp liên quan đến người đại diện. Vì vậy, ngay cả việc lấy ngày đến hạn rồi cộng đúng 03 năm đôi khi vẫn chưa đủ để kết luận thời hiệu đã hết.
Muốn xác định chính xác cần dựng lại toàn bộ lịch sử khoản vay: ngày vay, ngày đến hạn, các lần gia hạn, thời điểm chủ nợ yêu cầu thanh toán, các lần người vay thừa nhận nghĩa vụ, số tiền đã trả, biên bản hòa giải và những sự kiện đặc biệt khác.
Chủ nợ nói miệng “không cần trả nữa” thì khoản nợ có được xóa không?
Đây lại là một câu chuyện khác với hết thời hiệu.
Khoản nợ có thể chấm dứt trong những trường hợp pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận hợp pháp của các bên. Nếu bên có quyền thực sự miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ và việc miễn nghĩa vụ đáp ứng điều kiện pháp luật thì nghĩa vụ có thể chấm dứt. Điều này hoàn toàn khác với trường hợp khoản nợ tồn tại lâu nhưng chưa được thanh toán.
Vấn đề thực tế nằm ở chứng cứ. Nếu người vay nói chủ nợ đã đồng ý xóa 500 triệu đồng nhưng chủ nợ phủ nhận, Tòa án sẽ phải xem xét tài liệu chứng minh: có văn bản miễn nợ hay không, tin nhắn thể hiện nội dung gì, có người chứng kiến không, hai bên có quyết toán hoặc xác nhận hết nghĩa vụ hay chưa. Một câu nói không rõ hoàn cảnh như “thôi, lúc nào có thì trả” chưa chắc đã đồng nghĩa với việc chủ nợ từ bỏ toàn bộ khoản tiền.
Do đó, nếu hai bên thực sự thỏa thuận miễn toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ, nên thể hiện rõ bằng văn bản. Cần ghi cụ thể khoản nợ nào được miễn, số tiền bao nhiêu, phần nào đã thanh toán, phần nào không còn phải thực hiện và thời điểm thỏa thuận có hiệu lực để hạn chế tranh chấp sau này.
Nợ 5 năm, 10 năm hoặc 20 năm có còn bị kiện không?
Không thể trả lời chỉ bằng số năm.
Một khoản vay 10 năm chưa chắc đã hết thời hiệu nếu trong thời gian đó liên tục có các sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu. Ngược lại, một khoản vay mới 4 năm nhưng đã đến hạn từ lâu, không có sự kiện làm bắt đầu lại hoặc thời gian không tính vào thời hiệu thì vấn đề thời hiệu có thể trở thành nội dung rất quan trọng nếu bên có lợi yêu cầu Tòa án áp dụng.
Ví dụ, A vay B năm 2016. Đến năm 2018 phải trả nhưng không trả. Năm 2020 A ký giấy xác nhận nợ. Năm 2022 A trả một phần. Năm 2024 hai bên tiếp tục lập biên bản thống nhất lịch thanh toán. Khi giải quyết tranh chấp năm 2026, không thể chỉ nói “khoản vay từ 2016, đã 10 năm nên hết thời hiệu”. Phải đánh giá từng sự kiện theo Điều 157 để xác định thời hiệu có bắt đầu lại hay không.
Vì vậy, trong tranh chấp nợ lâu năm, “dòng thời gian khoản nợ” quan trọng hơn tuổi của giấy vay. Đây cũng là lý do một giấy vay cũ không nên bị vứt bỏ chỉ vì người cho vay nghĩ rằng đã quá nhiều năm.
Không có giấy vay tiền thì sau nhiều năm còn đòi được không?
Giấy vay là chứng cứ rất quan trọng nhưng không phải trường hợp nào quan hệ vay tiền cũng chỉ có thể được chứng minh bằng một tờ giấy mang tên “Giấy vay tiền”. Khi xảy ra tranh chấp, Tòa án có thể xem xét tổng thể tài liệu, chứng cứ hợp pháp để xác định có thực sự tồn tại việc giao tiền và thỏa thuận vay hay không.
Chẳng hạn, chủ nợ có thể có chứng từ chuyển khoản 200 triệu đồng, tin nhắn người vay nói “tháng sau tôi trả tiền đã vay”, bản ghi nhận việc trả lãi hoặc một phần tiền gốc và lời khai phù hợp của người biết sự việc. Những tài liệu đó có thể được đánh giá cùng nhau. Ngược lại, chỉ có một giao dịch chuyển 200 triệu đồng nhưng không chứng minh được đó là tiền vay hay tiền thanh toán cho một quan hệ khác thì việc đòi nợ có thể khó khăn hơn.
Đối với khoản nợ đã kéo dài nhiều năm, vấn đề chứng cứ càng quan trọng vì người làm chứng có thể không còn nhớ rõ, dữ liệu điện thoại bị mất và chứng từ ngân hàng khó tìm lại. Vì vậy, chủ nợ không nên chờ gần hết thời hiệu mới bắt đầu tập hợp tài liệu.
Người vay qua đời thì khoản nợ có được xóa không?
Người vay chết cũng không đồng nghĩa khoản nợ hợp pháp tự động biến mất. Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu di sản chưa được chia thì nghĩa vụ được thực hiện trong phạm vi di sản theo cơ chế luật định; nếu di sản đã chia thì người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều này cũng không có nghĩa con cái mặc nhiên phải lấy tài sản riêng trả toàn bộ nợ của cha mẹ. Nếu người cha còn nợ 1 tỷ đồng nhưng chỉ để lại 300 triệu đồng di sản thì trách nhiệm phát sinh từ tư cách người hưởng thừa kế về nguyên tắc nằm trong phạm vi di sản. Nếu người con là đồng vay, người bảo lãnh hoặc có một nghĩa vụ độc lập khác thì lại phải xem xét theo quan hệ đó.
Đặc biệt, đối với yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, Bộ luật Dân sự có quy định thời hiệu riêng tại khoản 3 Điều 623 là 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, đây không nên được đánh đồng hoàn toàn với thời hiệu tranh chấp hợp đồng thông thường.
Xóa nợ trên CIC có giống “xóa nợ” theo pháp luật dân sự không?
Không. Hai vấn đề này thường bị người dân dùng chung từ “xóa nợ” nhưng bản chất hoàn toàn khác nhau.
Trong quan hệ dân sự, câu hỏi là nghĩa vụ trả tiền giữa người vay và người cho vay còn tồn tại hay không, thời hiệu khởi kiện được áp dụng thế nào và có căn cứ chấm dứt nghĩa vụ hay không. Còn thông tin tín dụng liên quan đến ngân hàng, tổ chức tín dụng và hệ thống thông tin tín dụng lại chịu các quy định chuyên ngành về việc thu thập, lưu giữ, cập nhật và cung cấp thông tin.
Vì vậy, việc một khoản nợ không còn hiển thị theo một cách nhất định trên lịch sử tín dụng không đồng nghĩa người vay đương nhiên được miễn nghĩa vụ thanh toán. Ngược lại, việc đã trả hết nợ cũng không có nghĩa toàn bộ thông tin lịch sử tín dụng lập tức biến mất ngay tại thời điểm trả. Nếu nội dung cần giải quyết là “bao lâu hết nợ xấu CIC”, phải kiểm tra riêng quy định chuyên ngành hiện hành chứ không áp dụng máy móc thời hiệu 03 năm tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
Khoản nợ đã quá thời hiệu nhưng người vay tự nguyện trả thì có đòi lại được không?
Đây là tình huống cho thấy rõ nhất vì sao “hết thời hiệu” không nên được hiểu đơn giản thành “xóa nợ”.
Khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự quy định người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, trong tranh chấp cụ thể phải xem người có lợi từ thời hiệu có yêu cầu áp dụng hay không, và yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc.
Nếu người vay biết khoản nợ tồn tại và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, không thể đơn giản suy luận rằng cứ quá 03 năm thì mọi khoản tiền đã thanh toán đều trở thành “tiền trả nhầm” và đòi lại. Bản chất pháp lý phải được xem xét theo nghĩa vụ, sự tự nguyện và các quy định có liên quan.
Chính vì vậy, cụm từ “xóa nợ sau 3 năm” không nên sử dụng như một kết luận pháp lý. Cách diễn đạt đúng hơn là: cần kiểm tra thời hiệu khởi kiện và hậu quả của việc áp dụng thời hiệu trong từng vụ việc.
Chủ nợ cần làm gì để tránh mất lợi thế vì thời hiệu?
Ngay khi khoản vay đến hạn nhưng người vay không thanh toán, chủ nợ nên xác định rõ số tiền gốc, lãi, thời điểm vi phạm và tập hợp chứng cứ. Không nên chỉ gọi điện đòi tiền mà không lưu lại bất kỳ tài liệu nào. Nếu người vay xin khất nợ, nên có tin nhắn hoặc văn bản xác nhận rõ số tiền còn nợ và thời hạn dự kiến thanh toán. Nếu trả từng phần, cần lưu chứng từ thể hiện khoản tiền được dùng để thanh toán cho khoản vay nào.
Khi khoản nợ đã kéo dài, cần lập dòng thời gian: ngày giao tiền → ngày đến hạn → ngày yêu cầu trả → ngày người vay xác nhận nợ → ngày trả một phần → ngày hai bên hòa giải hoặc thỏa thuận lại. Sau đó đối chiếu Điều 429 và Điều 157 Bộ luật Dân sự để đánh giá thời hiệu. Việc người vay thừa nhận nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc hai bên tự hòa giải có thể làm thời hiệu bắt đầu lại.
Đặc biệt, không nên để khoản vay kéo dài nhiều năm chỉ vì người vay liên tục hứa miệng “tháng sau sẽ trả”. Khi đã xuất hiện nguy cơ tẩu tán tài sản, cắt liên lạc hoặc phủ nhận khoản vay, chủ nợ cần cân nhắc biện pháp pháp lý phù hợp thay vì tiếp tục chờ đợi.
Người vay cần lưu ý gì khi bị đòi một khoản nợ từ nhiều năm trước?
Người vay cũng không nên vừa nhận yêu cầu thanh toán đã trả lời rằng “quá 3 năm rồi, tôi không nợ nữa”. Trước hết cần kiểm tra khoản tiền gốc thực tế đã nhận, các lần đã thanh toán, mức lãi, ngày đến hạn và những tài liệu mình từng ký hoặc gửi cho chủ nợ. Có trường hợp người vay tưởng đã hết thời hiệu nhưng chỉ vài tháng trước lại ký giấy xác nhận toàn bộ khoản nợ hoặc vừa chuyển tiền trả một phần, làm phát sinh vấn đề bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157.
Ngược lại, nếu chủ nợ yêu cầu số tiền cao hơn thực tế, tính lãi không đúng hoặc xuất trình giấy tờ có nội dung không chính xác thì người vay có quyền đưa ra chứng cứ phản bác. Việc có nghĩa vụ trả nợ không đồng nghĩa chủ nợ được tự tính bất kỳ số tiền nào. Điều 466 quy định nghĩa vụ trả nợ và Điều 468 Bộ luật Dân sự điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng vay; đối với quan hệ vay dân sự thông thường, lãi suất thỏa thuận về nguyên tắc không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Vì vậy, khi bị đòi một khoản nợ cũ, cần kiểm tra cả hai vấn đề: khoản nợ thực tế còn bao nhiêu và thời hiệu được xác định như thế nào. Không nên chỉ tập trung vào một trong hai.
Luật sư có thể hỗ trợ gì đối với khoản nợ đã kéo dài nhiều năm?
Đối với chủ nợ, luật sư cần kiểm tra giấy vay, hợp đồng, chứng từ giao tiền, tin nhắn, lịch sử thanh toán và các tài liệu xác nhận nghĩa vụ để xác định số tiền thực tế còn phải trả. Sau đó phải dựng lại toàn bộ dòng thời gian để xác định thời điểm quyền bị xâm phạm, thời hiệu khởi kiện và có hay không sự kiện làm thời hiệu bắt đầu lại.
Đối với người vay, luật sư cần kiểm tra khoản tiền thực nhận, số tiền đã trả, lãi suất, thời điểm đến hạn và các tài liệu mà chủ nợ sử dụng làm căn cứ yêu cầu. Nếu có vấn đề về thời hiệu thì phải xác định chính xác căn cứ và thời điểm đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu, bởi Điều 149 Bộ luật Dân sự và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định.
Trong trường hợp tranh chấp đã phát sinh, Luật Công Tâm có thể hỗ trợ soạn văn bản yêu cầu thanh toán, xác nhận công nợ, phương án hòa giải, đơn khởi kiện hoặc văn bản trình bày ý kiến; đồng thời tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tại Tòa án.
Không có quy định cứ nợ 3 năm, 5 năm hay 10 năm là tự động được “xóa nợ”
Nếu chỉ cần nhớ một điều về vấn đề này thì đó là: hết thời hiệu khởi kiện không đồng nghĩa khoản nợ tự động biến mất. Đối với tranh chấp hợp đồng, Điều 429 Bộ luật Dân sự quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, Điều 157 lại quy định thời hiệu có thể bắt đầu lại khi người có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, thực hiện một phần nghĩa vụ hoặc các bên tự hòa giải. Đồng thời, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu hợp lệ của một bên hoặc các bên trước thời điểm luật định.
Do đó, với một khoản nợ đã 5 năm hoặc 10 năm, cần kiểm tra theo chuỗi: Ngày vay tiền → ngày đến hạn → thời điểm không trả → các lần xác nhận nợ → các lần trả một phần → thỏa thuận gia hạn → hòa giải → sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu → yêu cầu áp dụng thời hiệu tại Tòa án.
Chỉ sau khi kiểm tra đầy đủ các yếu tố này mới có thể đánh giá hậu quả pháp lý của một khoản nợ lâu năm. Không nên dựa vào câu truyền miệng “quá 3 năm là xóa nợ”, bởi một tin nhắn xác nhận nợ, một lần trả một phần hoặc một biên bản hòa giải có thể làm thay đổi hoàn toàn việc xác định thời hiệu.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Dân sự 2015, trọng tâm Điều 149 và Điều 150 về áp dụng và các loại thời hiệu; Điều 154 về bắt đầu thời hiệu; Điều 156 về thời gian không tính vào thời hiệu; Điều 157 về bắt đầu lại thời hiệu; Điều 429 về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng; Điều 466 về nghĩa vụ trả nợ và Điều 468 về lãi suất.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đặc biệt Điều 184 về áp dụng thời hiệu trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Thông tin liên hệ
Luật Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
