Khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, nhiều bị đơn thường tập trung vào một việc: làm thế nào để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, trong không ít vụ án dân sự, quan hệ giữa hai bên không chỉ có một chiều. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nhưng bị đơn cho rằng chính nguyên đơn còn phải hoàn trả cho mình một khoản tiền khác; nguyên đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng bị đơn cho rằng hợp đồng vô hiệu và yêu cầu hoàn trả tài sản; hoặc nguyên đơn khởi kiện đòi tài sản trong khi bị đơn đồng thời yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại, thanh toán chi phí hoặc thực hiện một nghĩa vụ phát sinh từ chính quan hệ đang tranh chấp.
Trong những trường hợp đó, bị đơn cần đặc biệt lưu ý: “không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn” và “yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thực hiện một nghĩa vụ đối với mình” là hai vấn đề tố tụng khác nhau. Việc bị đơn đã nói trong buổi làm việc rằng “tôi đề nghị nguyên đơn trả lại cho tôi 500 triệu đồng”, hoặc đã ghi nội dung đó trong bản trình bày ý kiến, chưa đồng nghĩa yêu cầu này đương nhiên trở thành một yêu cầu phản tố được Tòa án xem xét để ra phán quyết.
Nếu thực chất bị đơn đang đưa ra một yêu cầu độc lập về quyền lợi của mình đối với nguyên đơn và muốn Tòa án giải quyết yêu cầu đó ngay trong cùng vụ án, cần xác định yêu cầu có đủ điều kiện phản tố hay không, đưa ra đúng thời điểm, thực hiện đúng thủ tục và hoàn thành nghĩa vụ tố tụng cần thiết để yêu cầu được Tòa án chấp nhận giải quyết. Đây là một chi tiết tố tụng tưởng nhỏ nhưng có thể quyết định phạm vi những vấn đề mà Tòa án xem xét trong vụ án.
Phản bác yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố là hai việc khác nhau
Trước hết phải phân biệt rõ hai tình huống. Tình huống thứ nhất, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 1 tỷ đồng và bị đơn cho rằng mình không nợ khoản tiền đó. Bị đơn đưa ra hợp đồng, chứng từ thanh toán và các tài liệu khác để đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về bản chất, bị đơn đang bảo vệ mình trước yêu cầu khởi kiện chứ chưa nhất thiết đưa ra một yêu cầu phản tố. Nếu Tòa án chấp nhận quan điểm của bị đơn, hậu quả có thể là yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị bác.
Tình huống thứ hai hoàn toàn khác. Nguyên đơn vẫn kiện đòi 1 tỷ đồng, nhưng bị đơn không chỉ đề nghị bác yêu cầu đó mà còn yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn phải trả ngược lại cho mình 300 triệu đồng tiền mà nguyên đơn đang có nghĩa vụ thanh toán. Lúc này, bị đơn không còn chỉ phòng thủ trước yêu cầu khởi kiện mà đang yêu cầu Tòa án đưa ra một phán quyết có lợi cho mình và xác lập nghĩa vụ tương ứng của nguyên đơn. Đây là lúc phải xem xét chế định phản tố.
Quyền này được ghi nhận ngay tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Quyền, nghĩa vụ của bị đơn. Theo đó, bị đơn có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; đồng thời có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu yêu cầu đó có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố, bị đơn có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định của Bộ luật.
Sự phân biệt này rất quan trọng. Một bên có thể trình bày hàng chục trang ý kiến phản bác nguyên đơn nhưng nếu thực chất muốn Tòa án tuyên buộc nguyên đơn phải trả tiền, giao tài sản, bồi thường hoặc thực hiện một nghĩa vụ cho mình thì phải xem xét liệu nội dung đó có phải được thực hiện bằng yêu cầu phản tố hay không.
Khi nào yêu cầu của bị đơn được xem là yêu cầu phản tố?
Không phải bất kỳ yêu cầu nào bị đơn đưa ra đối với nguyên đơn cũng đương nhiên được giải quyết với tư cách phản tố trong vụ án đang có. Pháp luật quy định cụ thể những trường hợp yêu cầu phản tố được chấp nhận để giải quyết cùng vụ án.
Theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu phản tố được chấp nhận khi thuộc một trong ba nhóm trường hợp: yêu cầu phản tố nhằm bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; nếu chấp nhận phản tố thì dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của bên kia; hoặc giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu đang được giải quyết có sự liên quan với nhau, việc giải quyết trong cùng một vụ án giúp giải quyết vụ án chính xác và nhanh hơn.
Ví dụ, A khởi kiện yêu cầu B thanh toán 800 triệu đồng còn thiếu theo hợp đồng. B cho rằng A cũng đang nợ B 300 triệu đồng phát sinh từ chính quá trình thực hiện hợp đồng và yêu cầu đối trừ nghĩa vụ. Đây là trường hợp cần xem xét theo điểm a khoản 2 Điều 200. Hoặc A yêu cầu B tiếp tục thực hiện một hợp đồng, trong khi B yêu cầu xác định hợp đồng đó vô hiệu; nếu yêu cầu của B được chấp nhận thì cơ sở để chấp nhận yêu cầu thực hiện hợp đồng của A có thể bị loại trừ. Trường hợp này cần được xem xét theo bản chất cụ thể của tranh chấp và điều kiện tại Điều 200.
Điểm quan trọng là phải nhìn vào nội dung thực chất của yêu cầu. Đừng chỉ đặt tên văn bản là “Đơn phản tố” rồi cho rằng Tòa án bắt buộc phải giải quyết. Ngược lại, cũng không nên vì văn bản đang mang tên “Bản trình bày ý kiến” mà bỏ qua việc bên trong thực chất chứa một yêu cầu buộc nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ. Điều cần xác định là bị đơn đang phản bác yêu cầu của nguyên đơn hay đang yêu cầu Tòa án dành cho mình một quyền lợi bằng một phán quyết đối với nguyên đơn.
“Tôi đã nói với Tòa rồi” chưa đủ để yêu cầu phản tố được giải quyết
Đây là điểm bị đơn rất dễ nhầm. Trong buổi lấy lời khai, hòa giải hoặc làm việc tại Tòa án, bị đơn có thể trình bày rằng nguyên đơn mới là người đang nợ tiền mình, phải trả lại tài sản hoặc phải bồi thường thiệt hại. Thư ký hoặc Thẩm phán có thể ghi nhận nội dung đó vào biên bản. Tuy nhiên, việc một ý kiến được ghi nhận trong hồ sơ không đồng nghĩa yêu cầu phản tố đã hoàn thành đầy đủ thủ tục tố tụng.
Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 – Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập quy định rất ngắn gọn nhưng đặc biệt quan trọng: “Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.” Điều đó cho thấy phản tố không đơn thuần là một câu đề nghị được đưa ra trong buổi làm việc. Khi thực hiện phản tố, bị đơn phải tuân thủ thủ tục tương ứng mà Bộ luật quy định đối với việc khởi kiện, trong phạm vi áp dụng cho yêu cầu phản tố.
Vì vậy, nếu mục đích thực sự của bị đơn là muốn bản án tuyên “buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn 500 triệu đồng”, thì sau khi trình bày quan điểm, bị đơn cần theo dõi tiếp xem Tòa án đã xác định đó là yêu cầu phản tố hay chưa, yêu cầu có cần sửa đổi hoặc bổ sung không, nghĩa vụ tạm ứng án phí đã được thực hiện chưa và quan trọng nhất là yêu cầu đó đã được Tòa án chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án hay chưa. Không nên đến sát ngày xét xử mới phát hiện nội dung mà mình tưởng là “đã yêu cầu từ lâu” thực tế mới chỉ nằm trong bản trình bày ý kiến.
Yêu cầu phản tố phải được đưa ra đúng thời điểm
Pháp luật không cho phép bị đơn chờ đến bất kỳ giai đoạn nào của vụ án rồi mới tùy ý đưa ra phản tố. Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Quy định này có ý nghĩa rất lớn trong thực tế. Giả sử sau khi được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, bị đơn đã biết mình có yêu cầu ngược lại đối với nguyên đơn nhưng chỉ tập trung viết bản ý kiến phản bác. Đến khi phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã được mở, bị đơn mới nghĩ đến việc yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn trả tiền cho mình. Khi đó, vấn đề về thời điểm phản tố có thể phát sinh và bị đơn có nguy cơ không được giải quyết yêu cầu đó với tư cách phản tố trong chính vụ án đang diễn ra.
Đây là lý do ngay khi nhận được thông báo thụ lý và đơn khởi kiện, bị đơn nên rà soát đồng thời hai câu hỏi: “Tôi phản bác yêu cầu nào của nguyên đơn?” và “Tôi có yêu cầu gì cần Tòa án tuyên buộc ngược lại đối với nguyên đơn hay không?”. Nếu có yêu cầu thuộc trường hợp phản tố, cần thực hiện sớm thay vì đợi đến phiên hòa giải hoặc phiên tòa mới nêu ra.
Có yêu cầu phản tố còn phải lưu ý nghĩa vụ tạm ứng án phí
Một điểm khác thường bị bỏ qua là nghĩa vụ tài chính tố tụng. Phản tố là quyền của bị đơn nhưng khi đưa ra yêu cầu phản tố, bị đơn không còn chỉ ở vị trí phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Đối với phần yêu cầu của chính mình, pháp luật đặt bị đơn vào vị trí có các quyền và nghĩa vụ tố tụng tương ứng.
Theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 – Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Vì Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định thủ tục yêu cầu phản tố được thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn, việc bị đơn nhận giấy báo tạm ứng án phí, thực hiện nghĩa vụ theo quy định và nộp lại tài liệu chứng minh cho Tòa án là những bước tố tụng cần được theo dõi cẩn thận.
Do đó, không nên hiểu rằng chỉ cần gửi một “đơn phản tố” là thủ tục đã hoàn tất. Sau khi nộp đơn, bị đơn cần tiếp tục kiểm tra phản hồi của Tòa án và thực hiện những nghĩa vụ được yêu cầu theo quy định. Nếu thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí thì cũng cần thực hiện thủ tục tương ứng và cung cấp căn cứ theo pháp luật.
Vì sao việc Tòa án chấp nhận giải quyết yêu cầu phản tố lại quan trọng?
Một vụ án dân sự được giải quyết trong phạm vi các yêu cầu tố tụng hợp lệ mà đương sự đưa ra và được xem xét theo quy định. Vì vậy, nếu bị đơn muốn bản án không chỉ bác yêu cầu của nguyên đơn mà còn tuyên buộc nguyên đơn phải thực hiện một nghĩa vụ đối với bị đơn, thì việc xác lập yêu cầu phản tố trong vụ án có ý nghĩa trực tiếp đối với phạm vi Tòa án xem xét.
Có thể hình dung rất đơn giản: nguyên đơn kiện B yêu cầu trả 1 tỷ đồng. Nếu B chỉ phản bác và chứng minh mình không nợ thì mục tiêu tố tụng của B là làm cho yêu cầu 1 tỷ đồng của A không được chấp nhận. Nhưng nếu B còn muốn bản án tuyên A phải trả ngược lại cho B 400 triệu đồng thì đó là một yêu cầu khác về mặt tố tụng. Tòa án muốn xem xét và ra phán quyết đối với yêu cầu này trong cùng vụ án thì phải có cơ sở để xác định nó là yêu cầu phản tố được chấp nhận giải quyết.
Chính vì vậy, khi nhận được văn bản của Tòa án xác định rõ yêu cầu phản tố nào được xem xét trong vụ án, bị đơn cần đọc kỹ phạm vi yêu cầu được ghi nhận: Tòa án đang xem xét số tiền bao nhiêu, tài sản nào, nghĩa vụ gì, đối với ai. Nếu nội dung không đúng hoặc chưa đầy đủ so với yêu cầu đã thực hiện, cần phản hồi kịp thời thay vì chờ đến phiên tòa.
Sau khi phản tố được đưa vào vụ án, nguyên đơn cũng có quyền phản bác và giao nộp chứng cứ
Phản tố không phải cơ chế để bị đơn bất ngờ đưa ra một yêu cầu tại phiên tòa khiến nguyên đơn không có cơ hội chuẩn bị. Nguyên tắc tố tụng đòi hỏi bên còn lại phải được biết yêu cầu đang được đặt ra để thực hiện quyền trình bày ý kiến và cung cấp chứng cứ.
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nguyên đơn có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn. Quyền này được thể hiện tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn. Điều này cho thấy sau khi xuất hiện phản tố, cấu trúc tranh chấp đã thay đổi: đối với yêu cầu khởi kiện ban đầu, nguyên đơn là người đưa ra yêu cầu và bị đơn là người phản bác; nhưng đối với yêu cầu phản tố, bị đơn trở thành bên đưa ra yêu cầu và phải chứng minh căn cứ cho yêu cầu đó, còn nguyên đơn có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ.
Đây cũng là lý do yêu cầu phản tố phải được xác định rõ ràng. Nếu bị đơn chỉ viết chung chung “đề nghị nguyên đơn bồi thường toàn bộ thiệt hại” nhưng không xác định thiệt hại gì, giá trị bao nhiêu, căn cứ từ đâu thì rất khó xác định chính xác phạm vi cần giải quyết và phạm vi chứng minh. Một yêu cầu phản tố tốt phải cho Tòa án và bên còn lại hiểu được bị đơn đang yêu cầu điều gì và dựa trên những căn cứ nào.
Phản tố cũng đồng nghĩa bị đơn phải có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình
Khi chỉ phản bác yêu cầu khởi kiện, bị đơn tập trung chứng minh những điểm không có căn cứ trong yêu cầu của nguyên đơn và thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh theo quy định. Nhưng khi đưa ra phản tố, bị đơn đang chủ động yêu cầu Tòa án bảo vệ một quyền hoặc lợi ích mà mình cho rằng bị nguyên đơn xâm phạm. Vì vậy, bị đơn không thể chỉ nói “nguyên đơn phải trả tiền cho tôi” mà không chuẩn bị chứng cứ cho chính yêu cầu đó.
Ví dụ, nếu phản tố yêu cầu hoàn trả 600 triệu đồng đã giao thì phải làm rõ căn cứ giao tiền, chứng từ chuyển khoản hoặc giao nhận, nội dung thỏa thuận và căn cứ phát sinh nghĩa vụ hoàn trả. Nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại thì cần chứng minh hành vi làm phát sinh trách nhiệm, thiệt hại thực tế, mối liên hệ giữa hành vi và thiệt hại cùng các điều kiện khác của trách nhiệm tương ứng. Nếu yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu thì phải xác định căn cứ vô hiệu và đồng thời cân nhắc hậu quả pháp lý mà mình yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì vậy, chuẩn bị phản tố nên được thực hiện gần giống như chuẩn bị một vụ kiện: xác định yêu cầu cụ thể, căn cứ pháp lý, sự kiện cần chứng minh, chứng cứ hiện có, chứng cứ còn thiếu và hậu quả pháp lý mong muốn Tòa án tuyên.
Nếu yêu cầu phản tố không được chấp nhận giải quyết cùng vụ án thì sao?
Một vấn đề cần đặc biệt phân biệt là “không được chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án” với “bị bác yêu cầu phản tố sau khi xét xử”. Đây không phải một chuyện. Trường hợp yêu cầu không đáp ứng điều kiện để được giải quyết như phản tố trong vụ án đang có không đồng nghĩa Tòa án đã xét xử nội dung và kết luận người đưa ra yêu cầu không có quyền.
Khoản 6 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Quyền của bị đơn khi yêu cầu phản tố không được chấp nhận giải quyết cùng vụ án quy định trường hợp yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác.
Ví dụ, B đưa ra một yêu cầu đối với A nhưng yêu cầu này không đáp ứng điều kiện để được giải quyết với tư cách phản tố trong vụ án hiện tại hoặc phát sinh vấn đề tố tụng khiến không được chấp nhận giải quyết cùng vụ án. Điều đó khác với trường hợp phản tố đã được giải quyết về nội dung và Tòa án tuyên không chấp nhận vì B không chứng minh được căn cứ. Việc phân biệt hai tình huống này rất quan trọng khi xác định bước pháp lý tiếp theo.
Đừng đợi đến phiên tòa mới hỏi: “Yêu cầu phản tố của tôi đã được giải quyết chưa?”
Trong thực tế, bị đơn nên kiểm tra tình trạng của yêu cầu phản tố ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử. Trước hết, cần kiểm tra mình đã nộp văn bản thể hiện rõ yêu cầu hay chưa; yêu cầu có thuộc một trong các trường hợp tại Điều 200 hay không; có được đưa ra trước thời điểm luật định không; Tòa án có yêu cầu sửa đổi, bổ sung gì không; nghĩa vụ tạm ứng án phí đã được thực hiện chưa; và Tòa án đang xác định phạm vi phản tố như thế nào.
Đặc biệt, cần giữ lại đơn có dấu nhận của Tòa án hoặc chứng từ gửi hợp lệ, giấy báo tạm ứng án phí, biên lai tạm ứng án phí, các thông báo tố tụng và tài liệu chứng minh đã giao nộp chứng cứ. Không nên chỉ dựa vào trí nhớ rằng “hôm hòa giải tôi đã nói rồi”. Trong tố tụng dân sự, việc một vấn đề đã được trao đổi và việc một yêu cầu đã được thực hiện đúng thủ tục là hai chuyện khác nhau.
Một cách kiểm tra rất thực tế là đặt câu hỏi: “Nếu ngày mai Tòa án xét xử, tôi muốn phần quyết định của bản án ghi chính xác điều gì đối với nguyên đơn?”. Nếu câu trả lời là “buộc nguyên đơn trả cho tôi một khoản tiền”, “buộc giao trả tài sản”, “tuyên giao dịch vô hiệu và hoàn trả tài sản”, “buộc bồi thường” hoặc một nghĩa vụ cụ thể khác, hãy kiểm tra ngay cơ sở tố tụng để Tòa án có thể xem xét yêu cầu đó trong vụ án.
Luật sư cần làm gì khi bảo vệ bị đơn có yêu cầu phản tố?
Khi tiếp nhận một vụ án từ phía bị đơn, luật sư không nên chỉ nghiên cứu xem yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ hay không. Cần đặt thêm câu hỏi: thân chủ có quyền lợi nào cần yêu cầu ngược lại đối với nguyên đơn hay không? Nếu có, yêu cầu đó chỉ là một căn cứ để bác yêu cầu khởi kiện hay thực chất là một yêu cầu phản tố cần Tòa án đưa ra phán quyết riêng?
Sau khi xác định có phản tố, luật sư cần kiểm tra ba nhóm vấn đề: điều kiện phản tố theo Điều 200; thủ tục theo Điều 202; thời điểm đưa ra phản tố và nghĩa vụ tạm ứng án phí theo Điều 146. Sau đó mới xây dựng hệ thống chứng cứ chứng minh cho nội dung phản tố. Việc này cần thực hiện sớm bởi thời điểm đưa ra phản tố bị giới hạn theo luật. THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Một yêu cầu phản tố được chuẩn bị tốt không chỉ giúp bảo vệ bị đơn trước yêu cầu khởi kiện mà còn có thể giúp giải quyết toàn diện quyền và nghĩa vụ của các bên trong cùng một vụ án, hạn chế việc sau khi kết thúc vụ án này lại phải tiếp tục khởi kiện một vụ án khác có quan hệ mật thiết với tranh chấp trước đó.
Kết luận: muốn Tòa buộc nguyên đơn thực hiện nghĩa vụ, đừng dừng lại ở câu “tôi đã nói với Tòa rồi”
Khi bị kiện, bị đơn có quyền bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn nhưng cũng có quyền phản tố khi đáp ứng các điều kiện pháp luật. Hai quyền này phải được phân biệt rõ. Nếu mục đích chỉ là đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có thể tập trung vào ý kiến phản bác và chứng cứ tương ứng. Nhưng nếu muốn Tòa án tuyên buộc nguyên đơn trả tiền, giao tài sản, bồi thường hoặc thực hiện một nghĩa vụ đối với mình, phải xem xét việc đưa ra yêu cầu phản tố theo đúng quy định.
Điểm mấu chốt nằm ở Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn và Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thủ tục yêu cầu phản tố: phản tố phải thuộc trường hợp luật định, được đưa ra đúng thời điểm và thực hiện theo thủ tục khởi kiện của nguyên đơn. Nếu thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí thì bị đơn còn phải thực hiện nghĩa vụ theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì vậy, nếu đang là bị đơn và muốn Tòa án buộc nguyên đơn thực hiện một nghĩa vụ đối với mình, đừng chỉ hỏi: “Tôi đã trình bày yêu cầu đó với Tòa chưa?”. Câu hỏi quan trọng hơn là: “Yêu cầu của tôi có phải phản tố không, tôi đã thực hiện đúng thủ tục chưa và Tòa án đã chấp nhận giải quyết yêu cầu đó trong vụ án hay chưa?”.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
