Khi một người bị tố giác, khởi tố hoặc truy tố về một tội phạm, câu hỏi thường được đặt ra là: “Có cách nào được miễn trách nhiệm hình sự không?”, “Đã bồi thường hết cho bị hại thì có được miễn không?”, “Tự thú có được đình chỉ vụ án không?” hoặc “Bị hại đã hòa giải và xin miễn trách nhiệm thì người phạm tội có còn bị xử lý?”.
Không phải cứ có hành vi cấu thành tội phạm thì trong mọi trường hợp người thực hiện đều phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng. Pháp luật hình sự Việt Nam có chế định miễn trách nhiệm hình sự nhằm áp dụng chính sách khoan hồng trong những trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định.
Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất dễ bị hiểu sai. Bồi thường không đồng nghĩa đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Tự thú cũng không phải cứ ra cơ quan công an khai báo là được miễn. Đặc biệt, “miễn trách nhiệm hình sự” và “không phạm tội” là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 – Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, pháp luật hiện hành phân biệt trường hợp người phạm tội được miễn và trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Đây là sự khác biệt rất quan trọng khi đánh giá một vụ án cụ thể.
Dưới đây là 06 căn cứ quan trọng cần đặc biệt lưu ý.
Do thay đổi chính sách, pháp luật làm hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội
Căn cứ đầu tiên được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự. Theo đó, khi đang tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử mà có sự thay đổi về chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.
Điểm cần chú ý ở đây là điều luật sử dụng cụm từ “được miễn”, không phải “có thể được miễn”. Khi có đầy đủ căn cứ luật định, đây không đơn thuần là vấn đề cân nhắc sự khoan hồng dựa trên nhân thân tốt hay việc người phạm tội đã khắc phục hậu quả.
Ví dụ, tại thời điểm một người thực hiện hành vi, hành vi đó đáp ứng các dấu hiệu của tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, chính sách hoặc pháp luật thay đổi đến mức hành vi đó không còn được đánh giá là nguy hiểm cho xã hội theo căn cứ tại Điều 29. Khi đó phải xem xét việc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội.
Nhưng không phải cứ có một văn bản pháp luật mới hoặc chính sách mới là tự động được miễn trách nhiệm hình sự. Vấn đề phải làm rõ là sự thay đổi đó có thực sự làm cho chính hành vi phạm tội đang bị xem xét không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không.
Vì vậy, khi vụ án kéo dài qua thời điểm pháp luật thay đổi, luật sư cần kiểm tra không chỉ điều luật tại thời điểm thực hiện hành vi mà cả những quy định có hiệu lực sau đó có lợi cho người bị buộc tội.
Khi có quyết định đại xá
Căn cứ thứ hai là trường hợp có quyết định đại xá. Đại xá thể hiện chính sách khoan hồng đặc biệt của Nhà nước và là một trong những căn cứ mà Điều 29 quy định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, người phạm tội phải thuộc phạm vi điều chỉnh của quyết định đại xá tương ứng.
Một điểm đặc biệt cần phân biệt là đại xá không phải đặc xá. Đặc xá về cơ bản liên quan đến việc đặc biệt tha tù trước thời hạn cho người đang chấp hành án phạt tù trong những điều kiện luật định. Trong khi đó, đại xá có bản chất và hậu quả pháp lý khác, gắn với chính sách khoan hồng đặc biệt đối với một hoặc một số loại tội phạm, người phạm tội theo quyết định đại xá.
Vì vậy, khi nghe thông tin về một đợt đặc xá, không thể suy luận rằng người đang bị điều tra hoặc truy tố đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Hai chế định phải được tách biệt rõ ràng.
Do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội
Đây là trường hợp rất dễ bị nhầm với căn cứ thứ nhất. Căn cứ thứ nhất tập trung vào sự thay đổi của chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội. Còn điểm a khoản 2 Điều 29 lại đề cập trường hợp khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, do chuyển biến của tình hình mà chính người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Hai trường hợp khác nhau ở đối tượng đánh giá. Một bên là tính nguy hiểm của hành vi phạm tội thay đổi do chính sách, pháp luật. Bên còn lại là mức độ nguy hiểm của người phạm tội thay đổi do chuyển biến của tình hình. Đồng thời, trường hợp thứ ba thuộc nhóm “có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Nghĩa là không phải cứ người phạm tội cho rằng bản thân hiện nay đã sống tốt, có công việc ổn định, không tái phạm hoặc không còn khả năng gây ảnh hưởng xấu cho xã hội thì đương nhiên được miễn.
Cần chứng minh được yếu tố “chuyển biến của tình hình” và mối liên hệ giữa sự chuyển biến đó với việc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội. Đây là vấn đề phải được đánh giá trên những tình tiết cụ thể của vụ án chứ không thể chỉ dựa trên lời trình bày của người bị buộc tội.
Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội
Đây là một căn cứ rất quan trọng tại điểm b khoản 2 Điều 29 nhưng trên thực tế thường bị bỏ sót khi nhắc đến miễn trách nhiệm hình sự. Theo quy định hiện hành, trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nếu người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa không phải cứ xuất trình giấy xác nhận mắc một bệnh nặng là được miễn trách nhiệm hình sự. Điều luật đặt ra đồng thời những yếu tố phải được đánh giá, trong đó đặc biệt quan trọng là tình trạng bệnh phải dẫn đến hậu quả người phạm tội không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
Chẳng hạn, một người đang bị điều tra mắc bệnh nhưng vẫn sinh hoạt bình thường, vẫn có khả năng tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm thì không thể chỉ dựa vào tên bệnh để yêu cầu áp dụng căn cứ này. Trong thực tế, hồ sơ y tế, kết luận chuyên môn, tình trạng sức khỏe thực tế và những tài liệu liên quan có ý nghĩa rất quan trọng. Luật sư khi đề nghị áp dụng căn cứ này phải chứng minh đúng điều kiện của Điều 29, thay vì chỉ tập trung chứng minh “thân chủ đang mắc bệnh”.
Đồng thời, cần phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với những chế định khác liên quan đến sức khỏe như hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Mỗi chế định được áp dụng ở một giai đoạn và có hậu quả pháp lý khác nhau.
Tự thú trước khi hành vi bị phát giác và đáp ứng đầy đủ các điều kiện đặc biệt của pháp luật
Một trong những hiểu nhầm phổ biến nhất là: “Cứ tự thú thì sẽ được miễn trách nhiệm hình sự”. Không chính xác. Điểm c khoản 2 Điều 29 đặt ra một chuỗi điều kiện khá chặt chẽ. Theo đó, trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội phải tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận. Khi đáp ứng điều kiện luật định, người đó có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Như vậy, chỉ một hành động đến cơ quan công an khai nhận chưa đủ. Đặc biệt phải phân biệt “tự thú” với trường hợp hành vi đã bị phát hiện, cơ quan điều tra đã xác định người thực hiện rồi người đó mới khai nhận. Việc thành khẩn khai báo sau khi bị phát hiện có thể có ý nghĩa khi xem xét trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ, nhưng không thể vì thế mà mặc nhiên chuyển thành căn cứ miễn trách nhiệm hình sự tại điểm c khoản 2 Điều 29.
Ví dụ, A thực hiện một hành vi phạm tội chưa bị bất kỳ ai phát giác. Sau đó A chủ động đến cơ quan có thẩm quyền khai báo toàn bộ sự việc. Tuy nhiên, để xem xét miễn trách nhiệm hình sự theo căn cứ này vẫn phải tiếp tục đánh giá các điều kiện còn lại của điều luật, chứ không dừng lại ở việc A “đã tự thú”.
Đây chính là lý do khi tư vấn vụ án hình sự phải đọc đầy đủ cả điều khoản. Chỉ trích một tình tiết có lợi rồi bỏ qua các điều kiện đi kèm rất dễ dẫn đến nhận định sai.
Tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, hòa giải và được bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự
Đây có lẽ là căn cứ được quan tâm nhiều nhất và cũng bị hiểu sai nhiều nhất. Khoản 3 Điều 29 không quy định rằng cứ bồi thường đầy đủ là được miễn trách nhiệm hình sự. Quy định này chỉ áp dụng khi đồng thời đáp ứng những điều kiện nhất định về loại tội phạm, hậu quả bị xâm phạm, việc khắc phục hậu quả, hòa giải và ý chí của bị hại.
Theo quy định hiện hành, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Từ quy định này có thể thấy ba sai lầm thường gặp.
Thứ nhất, bồi thường không phải “tấm vé” miễn trách nhiệm hình sự cho mọi tội phạm. Nếu vụ án không thuộc phạm vi mà khoản 3 Điều 29 điều chỉnh thì việc đã bồi thường vẫn có thể mang ý nghĩa khác, chẳng hạn được xem xét trong quá trình lượng hình, nhưng không thể tự động áp dụng khoản 3 Điều 29.
Thứ hai, chỉ bồi thường tiền chưa chắc đã đủ. Điều luật còn đặt ra yêu cầu về việc bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, ngay cả khi đáp ứng các điều kiện, điều luật sử dụng cụm từ “có thể được miễn”. Do đó, không nên tư vấn theo công thức “bồi thường + đơn xin miễn = chắc chắn đình chỉ”.
Đây là lý do trước khi thương lượng bồi thường trong vụ án hình sự, cần xác định chính xác tội danh, khoản truy tố, loại tội phạm và mục tiêu pháp lý của việc bồi thường.
Ngoài 06 trường hợp trên, Bộ luật Hình sự còn có trường hợp miễn trách nhiệm hình sự nào khác?
Có. Sáu trường hợp nêu trên là những căn cứ quan trọng được tập trung tại Điều 29. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự còn quy định việc miễn trách nhiệm hình sự trong một số chế định hoặc tội phạm cụ thể.
Một ví dụ đáng chú ý là Điều 16 Bộ luật Hình sự – Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Người tự ý không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù không có gì ngăn cản được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nhưng nếu hành vi thực tế đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành một tội khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó.
Ví dụ, một người đang có điều kiện tiếp tục thực hiện kế hoạch phạm tội nhưng thực sự tự nguyện từ bỏ trước khi tội phạm hoàn thành. Nếu đáp ứng đúng Điều 16, họ có thể được miễn trách nhiệm đối với tội định phạm. Nhưng nếu trước khi dừng lại họ đã thực hiện một hành vi độc lập cấu thành tội phạm khác thì không có nghĩa toàn bộ trách nhiệm hình sự đều được xóa bỏ.
Bộ luật Hình sự cũng có những quy định đặc thù trong từng tội danh. Chẳng hạn, Điều 390 Bộ luật Hình sự – Tội không tố giác tội phạm quy định trường hợp người không tố giác đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
Do đó, khi nghiên cứu một vụ án, không nên chỉ đọc Điều 29 rồi kết luận đã hết các khả năng miễn trách nhiệm hình sự. Cần kiểm tra cả Phần chung và chính điều luật quy định tội danh đang bị xem xét.
Đừng nhầm “miễn trách nhiệm hình sự” với “vô tội”
Đây là điểm đặc biệt quan trọng. Nếu một người không thực hiện hành vi, hành vi không cấu thành tội phạm, không đủ yếu tố chứng minh họ phạm tội hoặc thuộc một căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự tương ứng thì vấn đề pháp lý đặt ra không đơn giản là “xin miễn trách nhiệm hình sự”. Trong khi đó, miễn trách nhiệm hình sự là một chế định riêng, được áp dụng khi có căn cứ mà pháp luật quy định.
Ví dụ, nếu A bị buộc tội cố ý gây thương tích nhưng chứng cứ chứng minh A không phải người thực hiện hành vi, hướng bảo vệ phải tập trung vào việc bác bỏ căn cứ buộc tội. Không thể chuyển thành lập luận “A đã bồi thường nên xin miễn trách nhiệm hình sự”, bởi cách lập luận này có thể làm sai bản chất vấn đề cần chứng minh.
Tương tự, miễn trách nhiệm hình sự cũng khác với miễn hình phạt, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, án treo, đình chỉ vụ án theo một căn cứ tố tụng khác hoặc trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Mỗi chế định có điều kiện và hậu quả pháp lý riêng.
Đã bồi thường toàn bộ thiệt hại có chắc chắn được miễn trách nhiệm hình sự không?
Không. Đây là câu hỏi Luật Công Tâm thường gặp trong các vụ cố ý gây thương tích, xâm phạm tài sản và những vụ án phát sinh từ tranh chấp dân sự. Giả sử một người gây thiệt hại 300 triệu đồng và sau đó đã bồi thường đủ 300 triệu đồng. Việc bồi thường đầy đủ là một tình tiết rất quan trọng, thể hiện thái độ khắc phục hậu quả. Nhưng muốn biết người đó có thể được miễn trách nhiệm hình sự hay không thì phải quay lại chính điều luật đang áp dụng.
Tội phạm thuộc loại nào? Là cố ý hay vô ý? Thiệt hại thuộc đối tượng nào? Có đáp ứng khoản 3 Điều 29 hay một căn cứ miễn trách nhiệm hình sự riêng không? Bị hại có tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự không?
Nếu không đáp ứng căn cứ miễn trách nhiệm hình sự, việc bồi thường vẫn có thể có ý nghĩa khi xem xét tình tiết giảm nhẹ và quyết định hình phạt. Vì vậy, câu hỏi đúng không phải là “bồi thường bao nhiêu thì được miễn?”, mà là: “Vụ án này có thuộc trường hợp pháp luật cho phép miễn trách nhiệm hình sự hay không, và đã đáp ứng đủ từng điều kiện chưa?”
Tự thú, thành khẩn khai báo và đầu thú có giống nhau không?
Không nên đánh đồng ba vấn đề này. Trong thực tế, nhiều người sau khi bị cơ quan công an xác định là người thực hiện hành vi mới đến trình diện nhưng vẫn gọi đó là “tự thú”. Trong khi căn cứ tại điểm c khoản 2 Điều 29 đặt ra điều kiện rất rõ: việc tự thú phải xảy ra trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, đồng thời còn phải đáp ứng hàng loạt điều kiện khác.
Do đó, thời điểm cơ quan chức năng phát hiện hành vi, thời điểm xác định người thực hiện và thời điểm người đó đến khai báo phải được làm rõ. Ngay cả khi không đủ điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, việc người phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác hoặc khắc phục hậu quả vẫn có thể mang ý nghĩa pháp lý khác theo Bộ luật Hình sự. Luật sư vì thế không nên chỉ thu thập một “đơn xin miễn trách nhiệm hình sự” rồi cho rằng đã đủ. Phải xác định căn cứ pháp lý cụ thể mà đơn đó hướng đến.
Muốn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cần chuẩn bị những gì?
Điều quan trọng nhất là xác định chính xác căn cứ. Nếu đề nghị theo khoản 3 Điều 29 thì cần làm rõ loại tội phạm, tính chất lỗi, thiệt hại, quá trình bồi thường, khắc phục, việc hòa giải và ý chí tự nguyện của bị hại. Chứng từ chuyển tiền, biên bản giao nhận tiền, văn bản hòa giải, tài liệu thể hiện hậu quả đã được khắc phục và đơn đề nghị của bị hại đều có thể có ý nghĩa.
Nếu đề nghị theo căn cứ tự thú thì phải chứng minh thời điểm tự thú và các điều kiện đi kèm. Nếu căn cứ vào bệnh hiểm nghèo thì trọng tâm lại nằm ở hồ sơ y tế và việc chứng minh tình trạng bệnh dẫn đến người phạm tội không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội. Nếu viện dẫn chuyển biến của tình hình thì phải chỉ ra chuyển biến cụ thể nào, xảy ra khi nào và vì sao chuyển biến đó làm người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội.
Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự không phải một yêu cầu chung chung về sự khoan hồng. Mỗi căn cứ phải được chứng minh bằng một hệ thống tình tiết và tài liệu khác nhau.
Vai trò của luật sư khi xem xét căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Trong một vụ án hình sự, luật sư cần xác định vấn đề này càng sớm càng tốt nhưng không được đặt việc “xin miễn” lên trước việc kiểm tra căn cứ buộc tội.
Bước đầu tiên vẫn phải là xác định hành vi có cấu thành tội phạm hay không, chứng cứ buộc tội có hợp pháp và đủ sức chứng minh hay không, tội danh và khoản áp dụng có chính xác không. Chỉ khi có cơ sở xác định trách nhiệm hình sự mới tiếp tục đánh giá các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự phù hợp.
Nếu có căn cứ, luật sư cần thu thập tài liệu ngay từ giai đoạn điều tra: chứng cứ về tự thú, tài liệu bồi thường, hòa giải, đơn đề nghị của bị hại, hồ sơ sức khỏe, tài liệu về nhân thân hoặc những chứng cứ chứng minh điều kiện đặc thù của căn cứ đang đề nghị. Quan trọng nhất, không được biến tình tiết giảm nhẹ thành căn cứ miễn trách nhiệm hình sự khi pháp luật không quy định như vậy.
Có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự chưa có nghĩa chắc chắn được miễn
Điều 29 Bộ luật Hình sự cho thấy pháp luật phân biệt rất rõ hai nhóm.
Nhóm thứ nhất là trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, gồm việc thay đổi chính sách, pháp luật làm hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội và trường hợp có quyết định đại xá.
Nhóm thứ hai là những trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự, gồm chuyển biến của tình hình làm người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội; mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội; trường hợp tự thú đáp ứng đầy đủ các điều kiện đặc biệt; và trường hợp tội phạm thuộc phạm vi khoản 3 Điều 29 đã được khắc phục hậu quả, hòa giải và bị hại đề nghị miễn.
Ngoài ra, Bộ luật Hình sự còn có những căn cứ miễn trách nhiệm hình sự riêng trong các chế định và tội danh cụ thể. Vì vậy, khi một người đang bị tố giác, điều tra, truy tố hoặc xét xử, không nên chỉ hỏi: “Tôi đã bồi thường rồi có được miễn không?”. Cần xác định chính xác tội danh – khoản áp dụng – loại tội phạm – căn cứ miễn – từng điều kiện của căn cứ đó – chứng cứ chứng minh. Và đặc biệt phải nhớ: miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với vô tội; bồi thường không đồng nghĩa đương nhiên được miễn; tự thú cũng không đồng nghĩa chắc chắn được đình chỉ vụ án.
Thông tin liên hệ
Luật Công Tâm – Tâm sáng, pháp minh
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
