Trong thực tế, không ít gia đình xảy ra tranh chấp thừa kế dù người đã mất có để lại di chúc. Có trường hợp cha mẹ lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho một người con, nhưng sau khi cha mẹ qua đời, những người con khác vẫn yêu cầu phân chia di sản. Cũng có trường hợp di chúc được lập từ nhiều năm trước, có chữ ký của người để lại tài sản, nhưng khi thực hiện phân chia lại phát sinh tranh cãi về tính hợp pháp của di chúc, nguồn gốc tài sản hoặc quyền lợi của những người thừa kế.
Nhiều người cho rằng, di chúc là ý nguyện cuối cùng của người đã mất nên chỉ cần có di chúc thì tài sản đương nhiên phải được phân chia đúng theo nội dung đã ghi nhận. Tuy nhiên, quan điểm này chưa hoàn toàn chính xác.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là căn cứ quan trọng để xác định quyền thừa kế, nhưng việc phân chia di sản còn phụ thuộc vào tính hợp pháp và hiệu lực của di chúc, phạm vi tài sản thuộc quyền của người lập di chúc, quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và một số điều kiện pháp lý khác. Vậy có di chúc rồi, tài sản có đương nhiên được chia theo di chúc không? Trường hợp nào di chúc không được công nhận? Người không có tên trong di chúc có được hưởng thừa kế hay không? Luật Công Tâm sẽ phân tích cụ thể dưới đây.
Có di chúc rồi, tài sản có đương nhiên được chia theo di chúc không?
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Đây là một trong những căn cứ xác lập quyền thừa kế, thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân và được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Về nguyên tắc, khi một người qua đời và để lại di chúc hợp pháp, di sản của người đó được phân chia theo nội dung di chúc. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người, dành một phần tài sản để di tặng, thờ cúng hoặc giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi pháp luật cho phép.
Tuy nhiên, quyền định đoạt tài sản bằng di chúc không phải là quyền tuyệt đối. Việc thực hiện di chúc phải bảo đảm không xâm phạm quyền sở hữu của người khác, không trái quy định pháp luật và phải tôn trọng quyền hưởng di sản của những chủ thể được pháp luật bảo vệ.
Chẳng hạn, ông A có ba người con nhưng lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho người con út. Sau khi ông A qua đời, hai người con còn lại cho rằng việc phân chia như vậy không công bằng nên yêu cầu chia đều di sản. Trong trường hợp này, việc hai người con không được hưởng tài sản theo di chúc không đương nhiên làm cho di chúc vô hiệu. Nếu nhà đất là tài sản riêng của ông A, di chúc hợp pháp, có hiệu lực và không có người thuộc diện hưởng di sản bắt buộc bị ảnh hưởng thì về nguyên tắc, tài sản được phân chia theo ý chí của ông A.
Ngược lại, nếu nhà đất là tài sản chung của ông A và vợ, hoặc người vợ thuộc trường hợp được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì việc phân chia sẽ phải xem xét thêm những quyền lợi này. Như vậy, cần phân biệt giữa việc có một bản di chúc và việc bản di chúc đó có đủ điều kiện pháp lý để được thực hiện toàn bộ nội dung hay không. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt, một bản di chúc được lập hợp pháp cũng không có nghĩa mọi tài sản được đề cập trong đó đều đương nhiên trở thành di sản thừa kế. Chỉ những tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền tài sản hợp pháp của người đã mất mới được xác định là di sản để phân chia.
Di chúc phải hợp pháp mới có giá trị làm căn cứ phân chia di sản
Một trong những điều kiện quan trọng nhất để tài sản được phân chia theo di chúc là bản di chúc phải đáp ứng các điều kiện hợp pháp theo quy định.
Căn cứ Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng những điều kiện cơ bản về trạng thái nhận thức, ý chí của người lập di chúc cũng như nội dung và hình thức của di chúc.
Trước hết, tại thời điểm lập di chúc, người lập phải minh mẫn, sáng suốt và không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. Đây là điều kiện nhằm bảo đảm di chúc thực sự phản ánh ý chí tự nguyện của người để lại tài sản.
Trong thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh khi người lập di chúc đã cao tuổi, đang điều trị bệnh hoặc có dấu hiệu suy giảm khả năng nhận thức. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc một người cao tuổi hoặc mắc bệnh không đồng nghĩa với việc họ không có khả năng lập di chúc hợp pháp. Vấn đề cần xác định là tại thời điểm lập di chúc, người đó có minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện hay không.
Ví dụ, cụ B 85 tuổi, đang điều trị bệnh nhưng vẫn nhận thức rõ ràng, hiểu được tài sản của mình, biết người được hưởng di sản và tự nguyện lập di chúc. Trong trường hợp này, tuổi cao hoặc tình trạng bệnh tật không phải là căn cứ duy nhất để phủ nhận giá trị pháp lý của di chúc.
Ngược lại, nếu có chứng cứ chứng minh cụ B bị người thân đe dọa, ép buộc ký vào bản di chúc hoặc không nhận thức được hành vi của mình tại thời điểm lập di chúc thì có căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc.
Bên cạnh điều kiện về ý chí, nội dung di chúc cũng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc phải phù hợp với quy định pháp luật.
Di chúc có thể được lập bằng văn bản hoặc bằng miệng trong những trường hợp đặc biệt. Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định các hình thức có người làm chứng, không có người làm chứng, có công chứng hoặc có chứng thực. Mỗi hình thức có những điều kiện tương ứng cần được tuân thủ. Đáng chú ý, không phải mọi bản di chúc đều bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực mới có giá trị pháp lý. Một bản di chúc viết tay không được công chứng vẫn có thể hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.
Ngược lại, việc di chúc đã được công chứng hoặc chứng thực cũng không có nghĩa bản di chúc đó tuyệt đối không thể bị tranh chấp. Nếu có chứng cứ về việc giả mạo, lừa dối, cưỡng ép hoặc những vi phạm pháp luật khác, người có quyền lợi liên quan vẫn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét. Do đó, khi phát sinh tranh chấp, việc xác định hiệu lực của di chúc phải dựa trên các điều kiện pháp luật và chứng cứ cụ thể, không thể chỉ căn cứ vào việc di chúc có chữ ký, dấu xác nhận hoặc được lập từ lâu.
Người lập di chúc chỉ được định đoạt tài sản thuộc quyền của mình
Một vấn đề thường gặp trong các vụ án tranh chấp thừa kế là người lập di chúc định đoạt cả phần tài sản không thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Như vậy, trước khi phân chia di sản theo di chúc, cần xác định chính xác tài sản nào thuộc quyền của người đã mất, tài sản nào thuộc quyền của người khác và phần nào là di sản thực tế được để lại. Đối với nhà đất, việc xác định di sản thường phức tạp bởi quyền sử dụng đất có thể là tài sản riêng của một người, tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản chung của nhiều thành viên trong gia đình.
Ví dụ, ông C và bà D có một thửa đất diện tích 200m² được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ chồng. Trước khi qua đời, ông C lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất cho con trai cả. Trong trường hợp này, nếu xác định quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo phần bằng nhau thì về nguyên tắc, phần quyền sử dụng đất tương ứng với 100m² thuộc quyền của bà D, không phải di sản của ông C. Ông C chỉ có quyền lập di chúc định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình. Việc di chúc ghi nhận để lại toàn bộ 200m² không làm phát sinh quyền thừa kế đối với phần tài sản vốn thuộc quyền của bà D.
Cũng cần lưu ý rằng, diện tích 100m² trong ví dụ chỉ thể hiện giá trị phần quyền tài sản theo tỷ lệ, không đồng nghĩa người thừa kế đương nhiên được tách một thửa đất 100m² trên thực tế. Việc phân chia bằng hiện vật còn phụ thuộc vào tình trạng pháp lý của thửa đất, điều kiện tách thửa và khả năng thực hiện. Ngoài tài sản chung của vợ chồng, những tranh chấp liên quan đến đất hộ gia đình, đất có nguồn gốc từ cha mẹ để lại, đất được nhiều người cùng đóng góp tiền nhận chuyển nhượng hoặc đất chưa phân chia thừa kế cũng cần được xem xét cẩn trọng.
Có trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một người nhưng quyền sử dụng đất thực tế là tài sản chung. Ngược lại, cũng có trường hợp nhà đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng được xác định là tài sản riêng theo quy định pháp luật. Vì vậy, việc đứng tên trên Giấy chứng nhận là căn cứ quan trọng nhưng không phải trong mọi trường hợp đều đủ để kết luận toàn bộ tài sản thuộc quyền định đoạt riêng của người đứng tên. Trước khi thực hiện di chúc, các bên cần kiểm tra nguồn gốc hình thành tài sản, thời điểm tạo lập, giấy tờ pháp lý, quan hệ tài sản giữa các chủ thể và những chứng cứ liên quan. Việc xác định đúng di sản không chỉ bảo vệ quyền của người thừa kế mà còn tránh tình trạng phân chia nhầm tài sản của người đang còn sống hoặc người đồng sở hữu khác.
Không có tên trong di chúc vẫn có thể được hưởng di sản thừa kế
Đây là một trong những quy định quan trọng nhất nhưng thường bị bỏ qua khi phân chia di sản theo di chúc. Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của người lập di chúc. Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi của một số người có quan hệ đặc biệt với người để lại di sản, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Căn cứ Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thuộc diện này bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản; con chưa thành niên và con thành niên không có khả năng lao động.
Theo đó, nếu họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự.
Ví dụ, ông E có tài sản riêng trị giá 1,8 tỷ đồng. Ông có vợ và hai người con đều đã thành niên, có khả năng lao động. Ông E lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ tài sản cho người con trai cả.
Giả sử cha mẹ ông E đã mất, không có người thừa kế nào khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất, không có nghĩa vụ tài sản phải thanh toán và không phát sinh tình tiết pháp lý khác ảnh hưởng đến việc phân chia. Nếu chia thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất có ba người gồm vợ và hai người con. Mỗi suất thừa kế theo pháp luật tương ứng 600 triệu đồng. Mặc dù người vợ không được chỉ định hưởng di sản trong di chúc, bà vẫn thuộc trường hợp được hưởng di sản bắt buộc. Phần di sản bà được hưởng bằng hai phần ba của 600 triệu đồng, tức 400 triệu đồng. Sau khi bảo đảm phần di sản bắt buộc của người vợ, phần di sản còn lại được phân chia theo nội dung di chúc hợp pháp. Trong khi đó, người con thứ hai đã thành niên, có khả năng lao động, không thuộc diện hưởng di sản bắt buộc. Vì vậy, nếu di chúc không cho người này hưởng tài sản thì họ không đương nhiên có quyền yêu cầu được chia một phần di sản chỉ vì là con của người đã mất.
Ví dụ trên cho thấy, không phải mọi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều được bảo đảm một phần di sản khi có di chúc. Quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ áp dụng đối với những chủ thể đáp ứng điều kiện cụ thể mà pháp luật quy định.
Đồng thời, cần phân biệt người con thành niên không có khả năng lao động với người con đang thất nghiệp, thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn về kinh tế. Việc không có việc làm hoặc không có thu nhập ổn định không đương nhiên đồng nghĩa với việc không có khả năng lao động theo quy định. Khi phát sinh tranh chấp, cần thu thập chứng cứ chứng minh tình trạng và điều kiện của người yêu cầu hưởng di sản bắt buộc. Đây là cơ sở quan trọng để xác định đúng quyền lợi của từng người và tránh việc áp dụng Điều 644 một cách máy móc.
Những trường hợp di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần
Không phải mọi di chúc đã được lập đều có thể được thực hiện đầy đủ khi người lập qua đời. Theo Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức thời điểm người có tài sản chết. Tuy nhiên, hiệu lực của di chúc còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể liên quan đến người thừa kế, tài sản và nội dung định đoạt.
Trường hợp người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì phần di chúc liên quan đến người đó không có hiệu lực. Đối với cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng di sản, nếu không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế thì phần di chúc liên quan cũng không có hiệu lực.
Chẳng hạn, ông F lập di chúc để lại căn nhà cho con trai. Tuy nhiên, người con trai qua đời trước ông F và di chúc không có nội dung định đoạt khác đối với phần tài sản này. Khi ông F qua đời, phần di chúc chỉ định người con trai đã mất hưởng căn nhà sẽ không có hiệu lực và việc xử lý di sản phải căn cứ vào những quy định thừa kế tương ứng. Ngoài ra, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn tại thời điểm mở thừa kế thì di chúc không có hiệu lực đối với phần tài sản đó.
Ví dụ, bà G lập di chúc để lại một căn nhà cho con gái. Sau đó, khi còn sống, bà G đã bán hợp pháp căn nhà này cho người khác. Đến thời điểm bà G qua đời, căn nhà không còn thuộc tài sản của bà thì người con gái không thể chỉ căn cứ vào di chúc để yêu cầu nhận lại căn nhà đã được chuyển nhượng hợp pháp.
Một tình huống khác là di chúc có nhiều nội dung định đoạt, trong đó chỉ một phần không hợp pháp. Nếu phần không hợp pháp không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giải quyết tranh chấp. Khi phát hiện một nội dung di chúc có vấn đề, không thể mặc nhiên kết luận toàn bộ bản di chúc đều vô hiệu.
Cần phân tích từng phần định đoạt, xác định nội dung nào hợp pháp, nội dung nào không hợp pháp và những phần đó có thể tồn tại độc lập hay không. Đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc hoặc phần di sản liên quan đến nội dung di chúc không có hiệu lực, việc phân chia có thể được thực hiện theo pháp luật theo Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, trong cùng một vụ việc thừa kế, hoàn toàn có thể tồn tại đồng thời việc phân chia một phần di sản theo di chúc và một phần di sản theo pháp luật.
Có di chúc nhưng những người thừa kế không đồng ý thì giải quyết như thế nào?
Trong thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh không phải vì người đã mất không để lại di chúc mà vì các thành viên trong gia đình có quan điểm khác nhau về hiệu lực, nội dung hoặc cách thực hiện di chúc.
Có người cho rằng di chúc bị giả mạo chữ ký, có người cho rằng cha mẹ không minh mẫn khi lập di chúc, có người phản đối vì nhà đất là tài sản chung chưa được xác định rõ. Cũng có trường hợp các bên đều thừa nhận di chúc hợp pháp nhưng không thống nhất được cách phân chia nhà đất.
Khi xảy ra tranh chấp, trước hết cần xác định rõ nội dung bất đồng giữa các bên. Nếu tranh chấp liên quan đến tính hợp pháp của di chúc thì cần tập trung thu thập chứng cứ về quá trình lập di chúc, tình trạng nhận thức và ý chí của người lập, người làm chứng, tài liệu công chứng hoặc chứng thực và những chứng cứ liên quan. Nếu tranh chấp liên quan đến phạm vi di sản thì cần làm rõ nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu, quyền sử dụng của người để lại di sản và những người có quyền lợi liên quan.
Đối với trường hợp tranh chấp về phần di sản bắt buộc, cần xác định người yêu cầu có thuộc đối tượng quy định tại Điều 644 hay không, phần di sản được hưởng theo pháp luật là bao nhiêu và có thuộc trường hợp ngoại lệ hay không.
Các bên có thể thương lượng, thỏa thuận việc phân chia di sản trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Nếu không thể thống nhất, người có quyền lợi bị ảnh hưởng có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án sẽ xem xét yêu cầu của các đương sự, tài liệu chứng cứ và quy định pháp luật để xác định hiệu lực di chúc, phạm vi di sản, quyền của từng người thừa kế và phương thức phân chia phù hợp. Đặc biệt, đối với di sản là quyền sử dụng đất, việc phân chia bằng hiện vật còn phải xem xét diện tích, vị trí, hiện trạng sử dụng, điều kiện tách thửa và các quy định pháp luật đất đai có liên quan. Không phải trường hợp nào người được hưởng một phần nhà đất theo di chúc cũng có thể yêu cầu tách thành một thửa đất riêng. Nếu việc chia hiện vật không đáp ứng điều kiện pháp luật hoặc không thể thực hiện trên thực tế, cần xem xét phương thức giải quyết phù hợp với quyền lợi của các bên.
Bên cạnh đó, các đương sự cũng cần chú ý đến thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế. Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, việc áp dụng thời hiệu trong từng vụ việc còn phải xem xét các quy định chuyển tiếp và những tình tiết pháp lý liên quan.
Do vậy, khi phát sinh tranh chấp, người có quyền lợi liên quan nên chủ động thu thập tài liệu, xác định yêu cầu và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp, tránh để tranh chấp kéo dài làm ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ quyền lợi của mình.
Những lưu ý quan trọng khi lập di chúc và phân chia di sản thừa kế
Để hạn chế tranh chấp, người lập di chúc cần xác định rõ tài sản thuộc quyền định đoạt của mình, thông tin người được hưởng di sản và phần tài sản dành cho từng người. Đối với nhà đất, nên ghi nhận đầy đủ thông tin về thửa đất, giấy tờ pháp lý và nguồn gốc tài sản. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung hoặc quyền sử dụng chung, cần xác định rõ phần quyền của người lập di chúc, tránh ghi nhận việc định đoạt toàn bộ tài sản khi không có căn cứ pháp lý.
Việc lập di chúc cũng cần bảo đảm các điều kiện về năng lực nhận thức, sự tự nguyện, nội dung và hình thức theo quy định. Trong những trường hợp người lập di chúc cao tuổi, sức khỏe yếu hoặc có nguy cơ phát sinh tranh chấp, việc lựa chọn hình thức lập di chúc phù hợp và lưu giữ chứng cứ về quá trình lập di chúc có ý nghĩa quan trọng.
Người lập di chúc cũng nên cân nhắc đến quyền hưởng di sản bắt buộc của những người thuộc diện được pháp luật bảo vệ. Việc không xem xét vấn đề này có thể dẫn đến tình trạng nội dung di chúc không được thực hiện đầy đủ như mong muốn.
Đối với người được chỉ định hưởng di sản, không nên cho rằng chỉ cần xuất trình bản di chúc là có thể đương nhiên đứng tên toàn bộ nhà đất. Việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản sau khi nhận thừa kế phải được thực hiện theo đúng thủ tục pháp luật và trên cơ sở xác định hợp pháp quyền được hưởng di sản.
Trong trường hợp di chúc có nhiều bản hoặc người lập di chúc đã sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc, cần xem xét đầy đủ các tài liệu để xác định ý chí cuối cùng có hiệu lực của người để lại di sản. Đặc biệt, không nên tự ý chiếm giữ, chuyển nhượng hoặc định đoạt tài sản đang có tranh chấp khi chưa xác định rõ quyền của các bên. Những hành vi này có thể khiến tranh chấp trở nên phức tạp và phát sinh thêm các yêu cầu pháp lý khác. Việc tham khảo ý kiến luật sư ngay từ giai đoạn lập di chúc hoặc trước khi thực hiện phân chia di sản có thể giúp các bên nhận diện sớm những rủi ro pháp lý, chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp.
Luật Công Tâm tư vấn và giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc
Tranh chấp thừa kế là một trong những dạng tranh chấp dân sự phức tạp bởi không chỉ liên quan đến quyền sở hữu tài sản mà còn gắn liền với quan hệ gia đình, tình cảm giữa các thành viên và những vấn đề pháp lý phát sinh qua nhiều thời kỳ. Đặc biệt, đối với di sản là nhà đất, việc xác định nguồn gốc tài sản, tính hợp pháp của di chúc, quyền của người thừa kế và điều kiện phân chia trên thực tế thường đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, chứng cứ và các quy định pháp luật liên quan.
Công ty Luật TNHH Chí Công & Thiện Tâm – Luật Công Tâm cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý trong lĩnh vực thừa kế, bao gồm tư vấn lập di chúc, đánh giá tính hợp pháp và hiệu lực của di chúc, xác định di sản thừa kế, xác định người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.
Bên cạnh đó, Luật Công Tâm hỗ trợ khách hàng thu thập, đánh giá tài liệu chứng cứ, tư vấn phương án thương lượng, giải quyết tranh chấp và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong các vụ án tranh chấp thừa kế, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất.
Việc xác định đúng quyền của từng người thừa kế ngay từ đầu không chỉ giúp bảo vệ tài sản hợp pháp mà còn góp phần hạn chế những mâu thuẫn không đáng có trong gia đình.
Có di chúc không đồng nghĩa với việc toàn bộ tài sản đương nhiên được phân chia đúng theo nội dung di chúc. Để di chúc được thực hiện hợp pháp, cần xem xét đầy đủ tính hợp pháp, hiệu lực của di chúc, phạm vi tài sản thuộc quyền của người để lại di sản và quyền hưởng thừa kế của những người được pháp luật bảo vệ.
Trong nhiều trường hợp, dù di chúc hợp pháp, người không có tên trong di chúc vẫn có thể được hưởng một phần di sản theo quy định. Ngược lại, việc một người là con hoặc thuộc hàng thừa kế thứ nhất cũng không đồng nghĩa với việc họ chắc chắn được chia di sản khi người đã mất để lại di chúc hợp pháp. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp thừa kế, cần đánh giá toàn diện các tình tiết và chứng cứ của vụ việc, tránh kết luận chỉ dựa trên sự tồn tại của bản di chúc.
Di chúc là sự thể hiện ý nguyện của người đã mất, nhưng việc thực hiện ý nguyện đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.
Thông tin liên hệ
Văn phòng Luật Công Tâm
-
Hotline 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
-
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
-
Website: luatcongtam.com.vn
-
Email: [email protected]
