Khi cha mẹ hoặc người thân qua đời, việc phân chia di sản thừa kế thường là vấn đề khiến nhiều gia đình phát sinh tranh chấp. Không ít người cho rằng chỉ có vợ hoặc chồng và con cái mới được hưởng di sản, trong khi cha mẹ của người đã mất cũng có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định pháp luật. Vậy hàng thừa kế thứ nhất bao gồm những ai? Mỗi người được hưởng bao nhiêu phần di sản? Trường hợp người mất có di chúc thì quyền lợi của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được xác định như thế nào? Nắm rõ quy định pháp luật về thừa kế sẽ giúp bạn bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hạn chế những mâu thuẫn không đáng có trong gia đình. Dưới đây là những nội dung quan trọng cần biết về hàng thừa kế thứ nhất theo quy định hiện hành năm 2026.
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm những ai theo quy định pháp luật?
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. Đây là nhóm những người được pháp luật ưu tiên hưởng di sản khi việc thừa kế được thực hiện theo pháp luật.
Điều này có nghĩa là khi một người qua đời mà không để lại di chúc, hoặc di chúc không có hiệu lực toàn bộ hay một phần đối với di sản liên quan, việc phân chia tài sản sẽ được xem xét theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Khi đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản theo quy định, nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật có liên quan.
Một điểm cần lưu ý là hàng thừa kế thứ nhất không chỉ giới hạn ở những người đang sống chung với người đã mất hoặc có tên trong cùng hộ gia đình. Chẳng hạn, người con đã kết hôn, sinh sống ở địa phương khác hoặc không trực tiếp chăm sóc cha mẹ vẫn có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Tương tự, cha mẹ của người chết vẫn có thể được hưởng di sản nếu đáp ứng điều kiện thừa kế, kể cả khi người chết đã lập gia đình và có con riêng hoặc con chung.
Tuy nhiên, việc một người thuộc hàng thừa kế thứ nhất không có nghĩa là trong mọi trường hợp họ đương nhiên được chia một phần tài sản. Cần xác định người đó có còn sống tại thời điểm mở thừa kế hay không, có thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản hay từ chối nhận di sản hợp lệ hay không, đồng thời phải xem xét người chết có để lại di chúc và di sản thực tế gồm những tài sản nào.
Mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng bao nhiêu phần di sản?
Đây là vấn đề được nhiều gia đình quan tâm khi thực hiện thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản thừa kế. Theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau khi thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ, ông A qua đời, không để lại di chúc. Sau khi xác định phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông A và các nghĩa vụ tài sản cần thực hiện, di sản còn lại là 1,2 tỷ đồng. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm vợ, mẹ đẻ và hai người con. Nếu cả bốn người đều đủ điều kiện hưởng di sản, không có trường hợp từ chối nhận di sản hợp lệ và không có tình tiết pháp lý khác làm thay đổi việc phân chia, mỗi người sẽ được hưởng 300 triệu đồng.
Như vậy, pháp luật không quy định vợ hoặc chồng luôn được hưởng nhiều hơn con cái, cũng không mặc định người con trưởng được hưởng phần lớn hơn những người con khác khi chia thừa kế theo pháp luật. Về nguyên tắc, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau, không phụ thuộc vào thứ tự sinh của các con hoặc việc người nào đang trực tiếp quản lý tài sản.
Tuy nhiên, cần phân biệt tổng tài sản của gia đình và di sản thực tế của người chết. Nếu tài sản là tài sản chung vợ chồng thì trước khi chia thừa kế, phải xác định phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người còn sống và phần thuộc về người đã chết. Chỉ phần di sản thuộc quyền sở hữu của người chết mới được đưa vào phân chia thừa kế, sau khi xem xét các nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan theo quy định pháp luật.
Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào giá trị căn nhà, thửa đất hoặc tổng số tiền đang có để xác định ngay mỗi người được hưởng bao nhiêu. Việc xác định nguồn gốc tài sản, quyền sở hữu và nghĩa vụ tài sản của người chết là bước quan trọng để tránh chia nhầm hoặc xâm phạm quyền lợi của người thừa kế.
Có di chúc thì hàng thừa kế thứ nhất có được hưởng di sản không?
Nhiều người cho rằng khi người thân đã lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho một người thì những người còn lại trong gia đình sẽ không được hưởng bất kỳ phần di sản nào. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác, bởi pháp luật có quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, một số người vẫn được hưởng phần di sản nhất định ngay cả khi không được người chết cho hưởng di sản trong di chúc hoặc chỉ được cho hưởng ít hơn mức luật định. Những người này bao gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ hoặc chồng và con thành niên mà không có khả năng lao động, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản hoặc thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật.
Phần di sản mà những người này được hưởng bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ được hưởng phần ít hơn mức đó.
Ví dụ, ông A qua đời và để lại di chúc cho toàn bộ tài sản của mình cho một người con đã trưởng thành, có khả năng lao động. Tuy nhiên, ông A vẫn còn vợ và người mẹ già. Nếu những người này thuộc trường hợp được bảo vệ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, họ có thể được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định, dù nội dung di chúc không đề cập đến quyền lợi của họ.
Điều cần lưu ý là không phải tất cả những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều đương nhiên được hưởng phần di sản bắt buộc. Chẳng hạn, người con đã thành niên và có khả năng lao động không thuộc nhóm người thừa kế bắt buộc chỉ vì họ là con của người chết. Vì vậy, khi có di chúc, cần xem xét đồng thời nội dung di chúc, tính hợp pháp của di chúc và tư cách của từng người có liên quan để xác định quyền lợi chính xác.
Những trường hợp nào được chia di sản theo pháp luật?
Không phải mọi trường hợp thừa kế đều được giải quyết theo nội dung di chúc. Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp nhất định, trong đó có trường hợp không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; hoặc người được chỉ định hưởng thừa kế không có quyền hưởng di sản hay từ chối nhận di sản theo quy định.
Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật còn được áp dụng đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản liên quan đến nội dung di chúc không có hiệu lực và các trường hợp khác được quy định tại Điều 650.
Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được ưu tiên hưởng di sản. Chỉ khi không còn ai thuộc hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo quy định thì những người thuộc hàng thừa kế tiếp theo mới được xem xét hưởng thừa kế.
Ví dụ, một người qua đời không để lại di chúc, có vợ, hai người con và một người em ruột. Trong trường hợp những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều đủ điều kiện nhận di sản, người em ruột không được chia di sản cùng hàng với vợ và các con. Người em thuộc hàng thừa kế thứ hai và chỉ được xem xét hưởng thừa kế khi đáp ứng điều kiện chuyển sang hàng thừa kế tiếp theo theo quy định pháp luật.
Quy định này nhằm bảo đảm thứ tự ưu tiên trong việc phân chia di sản, đồng thời hạn chế việc những người thuộc hàng thừa kế sau yêu cầu chia tài sản khi vẫn còn người thuộc hàng thừa kế trước có quyền hưởng di sản.
Con riêng, con nuôi có được hưởng di sản thừa kế không?
Một vấn đề thường phát sinh trong các vụ tranh chấp thừa kế là quyền lợi của con riêng và con nuôi. Trên thực tế, nhiều gia đình cho rằng chỉ con chung trong thời kỳ hôn nhân mới được hưởng di sản của cha hoặc mẹ. Tuy nhiên, việc xác định quyền thừa kế phải căn cứ vào quan hệ pháp lý giữa người để lại di sản và người được yêu cầu hưởng thừa kế.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, con đẻ và con nuôi của người chết đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Vì vậy, con nuôi hợp pháp có quyền hưởng di sản của cha mẹ nuôi theo quy định pháp luật. Việc một người là con nuôi không đồng nghĩa với việc họ bị loại khỏi hàng thừa kế thứ nhất.
Đối với con riêng, cần phân biệt rõ quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi con nuôi và quan hệ giữa con riêng với cha dượng, mẹ kế. Nếu người chết là cha hoặc mẹ đẻ của người con đó, người con vẫn có thể thuộc hàng thừa kế thứ nhất, không phụ thuộc vào việc cha mẹ đẻ có kết hôn với nhau hay không.
Trong trường hợp con riêng với cha dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con, Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định họ được thừa kế di sản của nhau và còn có thể được hưởng thừa kế theo Điều 652, Điều 653 khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Tuy nhiên, không phải cứ là con riêng sống cùng gia đình thì đương nhiên được hưởng di sản của cha dượng hoặc mẹ kế.
Do đó, khi giải quyết thừa kế trong gia đình có con riêng, con nuôi hoặc quan hệ gia đình phức tạp, cần thu thập giấy khai sinh, giấy tờ nhận nuôi con nuôi và các tài liệu chứng minh quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nếu có. Những tài liệu này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định đúng người được hưởng di sản.
Vợ hoặc chồng có đương nhiên được hưởng toàn bộ tài sản khi người kia qua đời không?
Câu trả lời là không. Khi một người qua đời, người vợ hoặc người chồng còn sống không đương nhiên được sở hữu toàn bộ tài sản của gia đình. Cần phân biệt giữa phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người còn sống và phần di sản thuộc về người đã chết.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, trước hết phải xác định quyền sở hữu của mỗi bên theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình. Sau đó, phần tài sản thuộc về người chết mới được xác định là di sản để phân chia thừa kế. Người vợ hoặc chồng còn sống vừa có thể có quyền sở hữu đối với phần tài sản của mình, vừa có thể được hưởng thêm di sản với tư cách người thừa kế.
Ví dụ, vợ chồng ông A có khối tài sản chung trị giá 2 tỷ đồng, giả định toàn bộ tài sản được xác định là tài sản chung và mỗi người có một nửa giá trị. Khi ông A qua đời, phần 1 tỷ đồng thuộc quyền sở hữu của ông A mới được xem xét là di sản để chia thừa kế, sau khi xác định các nghĩa vụ tài sản liên quan. Nếu ông A không để lại di chúc và những người thừa kế hàng thứ nhất gồm vợ, mẹ đẻ và hai người con đều đủ điều kiện hưởng di sản, mỗi người được hưởng 250 triệu đồng từ phần di sản 1 tỷ đồng. Người vợ khi đó có tổng giá trị quyền lợi 1,25 tỷ đồng, bao gồm phần tài sản của mình và phần thừa kế.
Đây chỉ là ví dụ minh họa với giả định cụ thể. Trong thực tế, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ trả nợ và những người có quyền hưởng di sản có thể làm thay đổi kết quả phân chia.
Đặc biệt, nếu người chết có tài sản riêng được hình thành trước hôn nhân, được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng thì cần xác định rõ nguồn gốc tài sản trước khi phân chia. Việc không làm rõ vấn đề này có thể khiến người thừa kế yêu cầu chia cả tài sản không thuộc di sản, dẫn đến tranh chấp kéo dài.
Người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có thể bị mất quyền hưởng di sản không?
Mặc dù được pháp luật ưu tiên, không phải trong mọi trường hợp người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều có quyền nhận di sản. Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản, chẳng hạn người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; hoặc có hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng pháp luật có quy định ngoại lệ đối với một số trường hợp người để lại di sản biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Vì vậy, việc xác định một người có bị loại khỏi quyền hưởng thừa kế hay không phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của Điều 621, không thể chỉ dựa trên mâu thuẫn gia đình hoặc lời tố cáo chưa được làm rõ.
Bên cạnh đó, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, nhưng việc từ chối phải đáp ứng điều kiện theo Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó việc từ chối phải được lập thành văn bản và thực hiện trước thời điểm phân chia di sản, đồng thời không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
Trong thực tế, nếu một người đã ký văn bản từ chối nhận di sản hoặc có hành vi liên quan đến việc quản lý, chuyển nhượng tài sản thừa kế, cần kiểm tra kỹ hồ sơ và thời điểm thực hiện để xác định quyền lợi còn lại. Không nên tự ý kết luận rằng người đó đã mất quyền hưởng di sản khi chưa đánh giá đầy đủ các điều kiện pháp lý.
Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi khi phân chia di sản thừa kế?
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên chủ động xác định đầy đủ những người có quyền hưởng di sản, phạm vi tài sản của người chết và các giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế. Đối với di sản là nhà đất, cần kiểm tra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, nguồn gốc hình thành tài sản và tình trạng đăng ký quyền sở hữu.
Nếu người chết không để lại di chúc và những người thừa kế thống nhất được việc phân chia, các bên có thể thực hiện thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc văn bản khai nhận di sản theo trường hợp phù hợp. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, cần thực hiện các thủ tục đăng ký liên quan để bảo đảm quyền của người nhận thừa kế được ghi nhận theo quy định.
Ngược lại, nếu có người tự ý bán nhà đất thừa kế, giữ giấy tờ tài sản, không cho những người thừa kế khác tiếp cận di sản hoặc yêu cầu chia tài sản không đúng quy định, người có quyền lợi bị ảnh hưởng cần lưu giữ các tài liệu chứng minh quyền thừa kế và việc quản lý, sử dụng tài sản. Khi không thể tự thỏa thuận, các bên có thể cân nhắc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, không nên ký văn bản từ chối nhận di sản, văn bản phân chia tài sản hoặc giấy ủy quyền khi chưa hiểu rõ nội dung và hậu quả pháp lý. Một chữ ký trong văn bản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi tài sản, nhất là khi di sản có giá trị lớn hoặc bao gồm nhà đất là nơi sinh sống của gia đình.
Vai trò của luật sư trong các vụ việc tranh chấp thừa kế
Trong các vụ việc có nhiều người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, có di chúc gây tranh cãi hoặc có tài sản chung, tài sản riêng chưa được xác định rõ, luật sư có thể hỗ trợ rà soát hồ sơ, xác định những người có quyền hưởng di sản và phân tích căn cứ pháp luật để bảo vệ quyền lợi của thân chủ.
Luật sư cũng có thể hỗ trợ đánh giá tính hợp pháp của di chúc, xác định phần di sản được phép phân chia, xem xét quyền của người thừa kế bắt buộc và hướng dẫn thu thập tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản. Khi phát sinh tranh chấp, luật sư có thể hỗ trợ thương lượng, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế.
Việc được tư vấn pháp lý từ sớm đặc biệt cần thiết khi tài sản thừa kế là nhà đất có giá trị lớn, đã được một người quản lý trong thời gian dài hoặc có dấu hiệu bị chuyển nhượng khi chưa thống nhất việc phân chia. Xác định đúng quyền thừa kế ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế rủi ro và tránh những tranh chấp có thể kéo dài nhiều năm.
Kết luận
Hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. Khi thừa kế theo pháp luật, những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Tuy nhiên, việc xác định chính xác mỗi người được hưởng bao nhiêu còn phụ thuộc vào phạm vi di sản, nghĩa vụ tài sản, di chúc và điều kiện hưởng thừa kế của từng người.
Đặc biệt, cần phân biệt trường hợp chia thừa kế theo pháp luật với trường hợp chia theo di chúc, đồng thời lưu ý quyền hưởng di sản bắt buộc của những người được bảo vệ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Không phải cứ thuộc hàng thừa kế thứ nhất là chắc chắn được hưởng di sản trong mọi trường hợp, cũng không phải người lập di chúc có thể tùy ý loại bỏ quyền lợi của tất cả những người thừa kế.
Nắm đúng quy định pháp luật năm 2026 sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ quyền lợi, hạn chế tranh chấp và tránh mất quyền lợi tài sản chỉ vì thiếu hiểu biết. Khi việc phân chia di sản có nhiều tình tiết phức tạp, hãy rà soát kỹ hồ sơ và cân nhắc tìm đến luật sư để được tư vấn phương án phù hợp.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
Văn phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
