NGƯỜI KHÁC CHUYỂN NHẦM 15 TRIỆU ĐỒNG NHƯNG NHẤT QUYẾT KHÔNG CHỊU TRẢ LẠI DÙ ĐÃ ĐƯỢC YÊU CẦU NHIỀU LẦN!Chuyển khoản nhầm là sự cố mà bất kỳ ai cũng có thể gặp phải trong quá trình sử dụng ngân hàng điện tử. Chỉ cần nhập sai một chữ số trong số tài khoản, chọn nhầm người thụ hưởng hoặc không kiểm tra kỹ thông tin trước khi xác nhận giao dịch, số tiền có thể lập tức được chuyển sang tài khoản của một người hoàn toàn xa lạ.
Trong nhiều trường hợp, người nhận được tiền chuyển nhầm đã chủ động phối hợp với ngân hàng hoặc cơ quan công an để hoàn trả lại cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, cũng có không ít người cho rằng tiền đã vào tài khoản của mình thì có quyền sử dụng, thậm chí cố tình không nghe điện thoại, chặn liên lạc, rút tiền tiêu xài hoặc nhất quyết không trả lại dù đã được ngân hàng, chủ tài khoản và cơ quan chức năng yêu cầu nhiều lần.
Một vụ việc mới đây là lời cảnh báo rõ ràng cho những người đang có suy nghĩ này. Ngày 21/7/2026, Công an xã Tuy Đức, tỉnh Lâm Đồng cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phạm Văn Thể về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Theo kết quả điều tra ban đầu, người này nhận được 15 triệu đồng do người khác chuyển nhầm vào tài khoản từ ngày 30/8/2022. Mặc dù biết rõ tiền không thuộc sở hữu của mình và đã nhiều lần được yêu cầu hoàn trả, người nhận vẫn cố tình chiếm giữ và sử dụng vào mục đích cá nhân.
Vụ việc đặt ra nhiều câu hỏi được người dân đặc biệt quan tâm: Tiền chuyển nhầm vào tài khoản thuộc về ai? Người nhận có được tự ý sử dụng không? Chỉ giữ lại 15 triệu đồng có thể bị khởi tố hình sự hay không? Người chuyển nhầm phải làm gì để lấy lại tiền? Và nếu bất ngờ nhận được một khoản tiền lạ, người nhận nên xử lý thế nào để không vướng vòng lao lý?
Vụ người nhận 15 triệu đồng chuyển nhầm nhưng không trả lại diễn ra như thế nào?
Theo thông tin được công bố, ngày 30/8/2022, Phạm Văn Thể nhận được số tiền 15 triệu đồng do một người khác chuyển nhầm vào tài khoản cá nhân của mình. Sau khi phát hiện sai sót, chủ sở hữu số tiền đã nhiều lần yêu cầu người nhận hoàn trả.
Không chỉ chủ tài khoản liên hệ, cơ quan chức năng cũng đã làm việc và yêu cầu người nhận trả lại số tiền không thuộc quyền sở hữu của mình. Tuy nhiên, người này vẫn cố tình chiếm giữ và sử dụng số tiền vào mục đích cá nhân.
Sau quá trình xác minh, thu thập tài liệu và chứng cứ, cơ quan điều tra xác định hành vi có dấu hiệu cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Ngày 21/7/2026, cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam nhằm tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Điểm đáng chú ý của vụ việc là số tiền không phải hàng trăm triệu hay hàng tỷ đồng mà chỉ là 15 triệu đồng. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tài sản đã vượt ngưỡng tối thiểu để xem xét trách nhiệm hình sự đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản.
Nhiều người thường nghĩ rằng chỉ những vụ chiếm đoạt có giá trị lớn mới bị khởi tố, còn vài triệu hoặc vài chục triệu đồng chỉ là chuyện dân sự. Cách hiểu này không chính xác.
Trách nhiệm hình sự không chỉ phụ thuộc vào giá trị tài sản mà còn phụ thuộc vào cách thức người đó có được tài sản, nhận thức của họ sau khi biết tài sản không thuộc về mình và thái độ của họ khi chủ sở hữu hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu hoàn trả.
Trong vụ việc nêu trên, người nhận tiền ban đầu không sử dụng thủ đoạn gian dối, không chiếm đoạt tài khoản ngân hàng và cũng không trực tiếp lấy tiền của bị hại. Số tiền được chuyển đến do lỗi của người chuyển. Tuy nhiên, sau khi biết rõ đây là tiền chuyển nhầm và đã được yêu cầu trả lại nhiều lần, người nhận vẫn cố tình giữ lại và tiêu dùng.
Chính sự cố tình không hoàn trả sau khi có yêu cầu là một trong những dấu hiệu quan trọng để xem xét hành vi chiếm giữ trái phép tài sản.
Việc vụ án được khởi tố cũng cho thấy tiền nằm trong tài khoản ngân hàng không đương nhiên thuộc quyền sở hữu của chủ tài khoản. Người nhận chỉ có quyền chiếm hữu và sử dụng khoản tiền nếu có căn cứ hợp pháp như được thanh toán, được tặng cho, được chuyển giao theo hợp đồng hoặc thuộc một giao dịch hợp pháp khác.
Nếu tiền được chuyển đến do nhầm lẫn thì người nhận có nghĩa vụ hoàn trả, không được coi đó là “tiền từ trên trời rơi xuống” để tùy ý sử dụng.
Tiền chuyển nhầm vào tài khoản có trở thành tài sản của người nhận không?
Việc một khoản tiền xuất hiện trong tài khoản ngân hàng không đồng nghĩa với việc người đứng tên tài khoản tự động trở thành chủ sở hữu hợp pháp của số tiền đó.
Quyền sở hữu tài sản phải được xác lập trên một căn cứ hợp pháp. Chẳng hạn, tiền được chuyển để thanh toán hàng hóa, trả nợ, trả tiền dịch vụ, tặng cho, thừa kế hoặc thực hiện một nghĩa vụ tài chính đã được thỏa thuận. Trường hợp người khác chuyển nhầm thì hoàn toàn không tồn tại ý chí chuyển giao quyền sở hữu số tiền cho người nhận.
Khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, người nhận được tiền chuyển nhầm có nghĩa vụ hoàn trả. Đây không phải là hành động mang tính tự nguyện, đạo đức hay “thích thì trả”, mà là một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.
Ngân hàng Nhà nước cũng từng xác định chủ tài khoản có nghĩa vụ hoàn trả hoặc phối hợp với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để hoàn trả những khoản tiền do nhầm lẫn, sai sót được ghi có vào tài khoản của mình. Tuy nhiên, ngân hàng không phải lúc nào cũng có quyền tự động rút tiền từ tài khoản người nhận để trả lại. Việc trích chuyển tiền gửi thường cần sự đồng ý của chủ tài khoản hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Đây cũng là lý do nhiều vụ việc kéo dài. Người chuyển nhầm thông báo với ngân hàng nhưng ngân hàng chỉ có thể thực hiện việc tra soát, liên hệ với người nhận và đề nghị phối hợp. Nếu người nhận không đồng ý hoàn trả, ngân hàng thường không thể tùy tiện lấy tiền từ tài khoản của họ để chuyển lại.
Tuy nhiên, việc ngân hàng chưa thể tự động thu hồi tiền không có nghĩa người nhận được quyền sở hữu số tiền đó.
Ví dụ, A có ý định chuyển 15 triệu đồng cho B để thanh toán tiền hàng nhưng nhập nhầm số tài khoản và tiền được chuyển sang tài khoản của C. Giữa A và C không có hợp đồng, không có quan hệ vay mượn, mua bán, tặng cho hoặc nghĩa vụ tài chính nào.
Trong trường hợp này, C không có căn cứ pháp luật để sở hữu 15 triệu đồng. Khi biết việc chuyển tiền là nhầm lẫn, C phải hoàn trả cho A hoặc phối hợp với ngân hàng để thực hiện việc hoàn trả.
Nếu C chưa biết đây là tiền chuyển nhầm, chưa sử dụng và đang chờ ngân hàng xác minh thì chưa thể kết luận C cố tình chiếm giữ trái phép. Nhưng nếu A, ngân hàng hoặc cơ quan có trách nhiệm đã thông báo, cung cấp chứng cứ và yêu cầu C hoàn trả mà C vẫn cố tình không trả, rút tiền tiêu hết hoặc tìm cách né tránh thì tính chất pháp lý của hành vi đã thay đổi.
Khi đó, vụ việc không còn đơn thuần là một giao dịch ngân hàng nhầm lẫn mà có thể trở thành hành vi vi phạm hành chính hoặc tội phạm hình sự tùy thuộc vào giá trị tài sản và các yếu tố cụ thể.
Khi nào không trả lại tiền chuyển nhầm bị khởi tố hình sự?
Không phải cứ nhận được tiền chuyển nhầm là lập tức phạm tội. Muốn xem xét trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ nhiều yếu tố.
Trước hết, tài sản phải được giao nhầm, chuyển nhầm hoặc do người đó tìm được, bắt được mà không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền sở hữu.
Tiếp theo, người nhận phải biết rõ tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.
Quan trọng hơn, chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm đã yêu cầu người nhận trả lại hoặc giao nộp tài sản nhưng người đó vẫn cố tình không thực hiện.
Điều 176 Bộ luật Hình sự quy định người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng sau khi đã được yêu cầu nhận lại thì có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Nếu tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên hoặc là bảo vật quốc gia thì có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.
Như vậy, các dấu hiệu thường được xem xét gồm:
Người nhận biết rõ tiền không thuộc về mình;
Đã có yêu cầu hoàn trả hợp pháp từ chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm;
Người nhận có khả năng hoàn trả nhưng vẫn cố tình không trả;
Giá trị tài sản đạt ngưỡng luật định;
Người nhận có ý thức chiếm giữ số tiền để sử dụng, tiêu xài hoặc định đoạt như tài sản của mình.
Ví dụ, người nhận nhận được tin nhắn từ ngân hàng về việc tra soát, được chủ tài khoản cung cấp biên lai chuyển khoản và được cơ quan công an mời làm việc. Người đó thừa nhận không có quan hệ giao dịch với người chuyển nhưng vẫn rút tiền, tiêu hết hoặc tuyên bố không trả.
Trong trường hợp này, việc “không biết tiền của ai” rất khó được chấp nhận bởi người nhận đã được thông báo rõ về nguồn gốc và chủ sở hữu tài sản.
Ngược lại, nếu tài khoản ít được sử dụng, người nhận không biết có tiền chuyển đến hoặc người tự xưng là chủ sở hữu không cung cấp được thông tin đáng tin cậy thì người nhận có quyền thận trọng. Họ không nên tự ý chuyển tiền cho một tài khoản lạ chỉ dựa trên cuộc gọi hoặc tin nhắn vì có thể gặp thủ đoạn lừa đảo.
Cách xử lý an toàn nhất là liên hệ trực tiếp với ngân hàng, yêu cầu lập tra soát và thực hiện việc hoàn tiền thông qua quy trình chính thức.
Việc thận trọng xác minh không đồng nghĩa với cố tình chiếm giữ. Chỉ khi đã biết rõ tiền chuyển nhầm, đã có căn cứ xác định chủ sở hữu và được yêu cầu trả lại nhưng vẫn cố tình từ chối thì mới có cơ sở xem xét trách nhiệm tương ứng.
Vì sao số tiền 15 triệu đồng đã đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự?
Nhiều người cho rằng 15 triệu đồng là số tiền không lớn, nếu không trả thì cùng lắm chỉ phải hoàn lại hoặc bị phạt hành chính. Tuy nhiên, Điều 176 Bộ luật Hình sự xác định ngưỡng tài sản để xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp thông thường là từ 10 triệu đồng.
Do đó, số tiền 15 triệu đồng đã vượt mức tối thiểu luật định.
Nếu các tài liệu điều tra chứng minh người nhận biết rõ đây là tiền chuyển nhầm, đã được yêu cầu hoàn trả nhưng vẫn cố tình chiếm giữ, hành vi có thể cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản.
Đây là điểm người dân cần đặc biệt lưu ý: giá trị tài sản để cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản thấp hơn nhiều so với suy nghĩ của một số người.
Không cần phải chiếm giữ hàng trăm triệu đồng mới bị khởi tố. Chỉ cần số tiền từ 10 triệu đồng trở lên và đáp ứng các dấu hiệu khác, người vi phạm đã có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.
Đối với tài sản có giá trị dưới 10 triệu đồng và không phải di vật, cổ vật, hành vi thông thường có thể chưa đủ ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự về Điều 176. Tuy nhiên, người chiếm giữ vẫn phải hoàn trả tài sản và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo quy định hiện hành được dẫn chiếu tại Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với cá nhân. Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc trả lại tài sản hoặc nộp lại số tiền tương ứng nếu tài sản đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy.
Như vậy, dù số tiền dưới hay trên 10 triệu đồng, người nhận cũng không có quyền tự ý chiếm giữ.
Sự khác biệt chủ yếu nằm ở mức độ xử lý:
Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, buộc trả lại tiền và chịu trách nhiệm dân sự.
Nếu số tiền đạt ngưỡng từ 10 triệu đồng trở lên và người nhận cố tình không trả sau khi được yêu cầu thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu số tiền từ 200 triệu đồng trở lên, mức hình phạt có thể lên đến 5 năm tù.
Việc người nhận đã tiêu hết tiền cũng không làm mất đi nghĩa vụ hoàn trả. Ngược lại, hành vi vội vàng rút tiền hoặc sử dụng ngay sau khi biết đây là tiền chuyển nhầm có thể trở thành tài liệu quan trọng để chứng minh ý thức chiếm giữ.
Không trả tiền chuyển nhầm khác gì với lừa đảo hoặc trộm cắp tài sản?
Người dân thường gọi chung mọi hành vi lấy hoặc giữ tài sản của người khác là “lừa đảo” hoặc “chiếm đoạt”. Tuy nhiên, pháp luật hình sự phân biệt rất rõ từng tội danh dựa trên phương thức người phạm tội có được tài sản.
Đối với tội trộm cắp tài sản, người phạm tội có hành vi lén lút lấy tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác.
Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, sau đó chiếm đoạt.
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội ban đầu nhận tài sản một cách hợp pháp thông qua vay, mượn, thuê, hợp đồng hoặc hình thức tương tự, sau đó dùng thủ đoạn, bỏ trốn, cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả theo các điều kiện luật định.
Trong khi đó, đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản, người phạm tội không chủ động lấy tài sản, không dùng thủ đoạn lừa dối để chủ sở hữu giao tài sản và cũng không nhận tài sản thông qua hợp đồng.
Tài sản đến tay họ do bị giao nhầm, chuyển nhầm hoặc do họ tìm được, bắt được. Ban đầu, sự xuất hiện của tài sản trong tay người nhận không nhất thiết là kết quả của hành vi phạm tội. Hành vi có dấu hiệu tội phạm phát sinh khi người đó biết rõ tài sản không thuộc về mình, đã được yêu cầu trả lại nhưng vẫn cố tình không trả.
Ví dụ, A sử dụng thông tin gian dối để yêu cầu B chuyển 15 triệu đồng thì hành vi có thể được xem xét theo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Nếu A bí mật truy cập tài khoản của B và chuyển 15 triệu đồng sang tài khoản của mình thì hành vi có thể bị xem xét theo những tội danh liên quan đến chiếm đoạt tài sản và phương tiện điện tử, tùy tình tiết cụ thể.
Nhưng nếu B tự nhập nhầm số tài khoản và chuyển tiền cho A, sau đó A biết rõ việc chuyển nhầm nhưng vẫn không trả, thì hướng xem xét phù hợp có thể là tội chiếm giữ trái phép tài sản.
Việc xác định đúng tội danh rất quan trọng vì mỗi tội có cấu thành, khung hình phạt và yêu cầu chứng minh khác nhau.
Không thể chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng là một người bị mất tiền để mặc nhiên kết luận người nhận phạm tội lừa đảo. Cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ toàn bộ diễn biến: ai là người thực hiện giao dịch, vì sao tiền được chuyển, người nhận có chủ động đưa thông tin gian dối hay không và thái độ của họ sau khi được yêu cầu hoàn trả.
Người chuyển nhầm tiền cần làm gì để lấy lại tài sản?
Khi phát hiện chuyển khoản nhầm, điều đầu tiên cần làm là giữ bình tĩnh và lưu lại toàn bộ chứng cứ liên quan đến giao dịch.
Người chuyển nhầm nên chụp lại biên lai giao dịch, số tài khoản nhận, tên người thụ hưởng, thời gian chuyển khoản, số tiền, nội dung chuyển khoản và mã giao dịch.
Sau đó, cần liên hệ ngay với ngân hàng nơi mình mở tài khoản để yêu cầu tra soát. Người gửi nên cung cấp chính xác các thông tin giao dịch và yêu cầu ngân hàng hỗ trợ liên hệ với ngân hàng của người nhận.
Ngân hàng có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý yêu cầu tra soát và phối hợp theo quy trình nghiệp vụ. Tuy nhiên, như đã phân tích, ngân hàng thường không thể tự ý trích tiền từ tài khoản người nhận nếu không có sự đồng ý của họ hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Do đó, nếu người nhận không phối hợp, người chuyển nhầm cần cân nhắc gửi đơn trình báo hoặc đơn tố giác đến cơ quan công an có thẩm quyền.
Nội dung đơn nên trình bày rõ:
Thời gian phát sinh giao dịch;
Số tiền đã chuyển nhầm;
Số tài khoản và tên người nhận;
Nguyên nhân chuyển nhầm;
Quá trình liên hệ với ngân hàng;
Các lần yêu cầu người nhận hoàn trả;
Thái độ, phản hồi hoặc hành vi né tránh của người nhận;
Yêu cầu cơ quan chức năng xác minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Kèm theo đơn cần có biên lai chuyển khoản, sao kê tài khoản, văn bản tra soát của ngân hàng, tin nhắn, ghi âm, email và các tài liệu chứng minh việc người nhận đã được yêu cầu hoàn trả.
Người chuyển nhầm cũng có thể yêu cầu hoàn trả tài sản theo thủ tục dân sự nếu có đủ thông tin của người nhận. Tuy nhiên, trong trường hợp có dấu hiệu cố tình chiếm giữ tài sản từ 10 triệu đồng trở lên sau khi đã được yêu cầu hoàn trả, việc trình báo cơ quan công an là cần thiết để xem xét dấu hiệu hình sự.
Một lưu ý đặc biệt quan trọng là không nên tự ý đăng toàn bộ thông tin cá nhân, số tài khoản, căn cước công dân hoặc hình ảnh của người nhận lên mạng xã hội để gây áp lực.
Việc công khai thông tin thiếu kiểm soát có thể xâm phạm đời tư, danh dự hoặc quyền nhân thân của người khác, đồng thời làm phát sinh tranh chấp pháp lý mới. Người bị chuyển nhầm nên ưu tiên làm việc thông qua ngân hàng, cơ quan công an và luật sư.
Ngoài ra, cần cảnh giác với những đối tượng giả danh người hỗ trợ lấy lại tiền chuyển nhầm, yêu cầu cung cấp mã OTP, mật khẩu, đường link đăng nhập hoặc chuyển phí trước. Ngân hàng và cơ quan công an không yêu cầu người dân cung cấp mã OTP để xử lý việc tra soát.
Người nhận được tiền chuyển nhầm phải xử lý như thế nào?
Khi tài khoản bất ngờ nhận được một khoản tiền không rõ nguồn gốc, người nhận tuyệt đối không nên vội vàng sử dụng, rút tiền hoặc chuyển cho người khác.
Bước đầu tiên là kiểm tra lịch sử giao dịch để xác định số tiền, thời gian chuyển, nội dung giao dịch và thông tin người gửi nếu có.
Tiếp theo, người nhận nên liên hệ với ngân hàng nơi mình mở tài khoản để thông báo về khoản tiền bất thường và yêu cầu hướng dẫn xử lý.
Nếu có người gọi điện tự nhận là người chuyển nhầm và yêu cầu chuyển tiền đến một tài khoản khác, người nhận không nên thực hiện ngay. Đây có thể là thủ đoạn lừa đảo, rửa tiền hoặc tạo giao dịch lòng vòng.
Việc hoàn trả nên được thực hiện thông qua ngân hàng, đúng tài khoản đã chuyển tiền hoặc theo hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Người nhận nên yêu cầu ngân hàng xác minh giao dịch và lưu lại chứng từ hoàn trả.
Trường hợp người chuyển trực tiếp liên hệ, người nhận có thể đề nghị họ làm thủ tục tra soát tại ngân hàng. Hai bên không nên tự thỏa thuận theo cách thiếu chứng cứ, đặc biệt khi số tiền lớn.
Nếu cơ quan công an mời làm việc, người nhận cần hợp tác, cung cấp thông tin trung thực và không tự ý tiêu dùng số tiền đang có tranh chấp.
Nếu đã lỡ sử dụng một phần hoặc toàn bộ số tiền, người nhận vẫn nên chủ động khắc phục ngay bằng cách hoàn trả đầy đủ, giải thích rõ sự việc và phối hợp với chủ sở hữu. Việc tự nguyện khắc phục hậu quả có thể được xem xét trong quá trình giải quyết vụ việc, nhưng không nên hiểu rằng trả tiền sau khi bị phát hiện sẽ đương nhiên loại trừ mọi trách nhiệm.
Cách an toàn nhất là xác định rõ nguyên tắc: tài sản không thuộc về mình thì không sử dụng.
Một khoản tiền lạ trong tài khoản không phải là món quà bất ngờ. Nó có thể là tiền chuyển nhầm, tiền liên quan đến hành vi lừa đảo hoặc một giao dịch bất hợp pháp. Mọi hành động vội vàng đều có thể tạo ra rủi ro pháp lý nghiêm trọng.
Những sai lầm có thể khiến người nhận tiền chuyển nhầm phải chịu trách nhiệm hình sự
Sai lầm phổ biến nhất là cho rằng tiền đã vào tài khoản của mình thì đương nhiên là tiền của mình.
Tài khoản ngân hàng chỉ là công cụ quản lý tiền. Quyền sở hữu đối với khoản tiền vẫn phải được xác định dựa trên nguồn gốc và căn cứ giao dịch. Nếu không có giao dịch hợp pháp thì người nhận không có quyền chiếm giữ.
Sai lầm tiếp theo là cố tình không nghe điện thoại, chặn số của người chuyển, khóa tài khoản mạng xã hội hoặc né tránh ngân hàng.
Những hành vi này không làm người chuyển mất quyền đòi lại tài sản. Ngược lại, chúng có thể được sử dụng cùng các tài liệu khác để chứng minh thái độ cố tình không hoàn trả.
Một sai lầm khác là rút toàn bộ tiền mặt hoặc chuyển sang tài khoản người thân với suy nghĩ sẽ không bị thu hồi.
Dòng tiền ngân hàng có thể được sao kê và truy vết. Việc rút tiền, chuyển tiền hoặc tiêu dùng sau khi đã biết đây là tiền chuyển nhầm có thể thể hiện rõ ý thức chiếm giữ và định đoạt trái phép.
Nhiều người còn cho rằng chỉ cần tiêu hết tiền thì không thể trả và vụ việc sẽ trở thành quan hệ dân sự.
Đây là suy nghĩ đặc biệt nguy hiểm. Việc sử dụng hết tài sản không làm chấm dứt nghĩa vụ hoàn trả, cũng không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự. Trong vụ việc 15 triệu đồng tại Lâm Đồng, cơ quan điều tra xác định người nhận đã sử dụng tiền vào mục đích cá nhân nhưng vẫn bị khởi tố và tạm giam để điều tra.
Có người yêu cầu chủ sở hữu phải “chia phần”, trả phí hoặc cho mình một khoản tiền thì mới hoàn trả. Hành vi này không có căn cứ pháp luật và có thể khiến vụ việc trở nên nghiêm trọng hơn.
Người nhận có thể đề nghị chủ sở hữu cung cấp chứng cứ, thực hiện tra soát ngân hàng và xác minh chính xác để bảo đảm không bị lừa. Tuy nhiên, không được lợi dụng việc đang nắm giữ tài sản để đặt ra điều kiện trái pháp luật.
Sai lầm cuối cùng là cho rằng trả lại tiền sau khi bị khởi tố thì chắc chắn vụ án sẽ bị đình chỉ.
Việc hoàn trả và khắc phục hậu quả là tình tiết có thể được xem xét, nhưng việc xử lý hình sự còn phụ thuộc vào tính chất vụ án, giai đoạn tố tụng, thái độ của người vi phạm và các quy định pháp luật liên quan. Không nên đợi đến khi bị mời làm việc, bị khởi tố hoặc bị bắt tạm giam mới tìm cách trả lại.
Kết luận
Tiền do người khác chuyển nhầm vào tài khoản không phải là tài sản hợp pháp của người nhận. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, người chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả cho chủ sở hữu. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.
Khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm đã yêu cầu trả lại mà người nhận vẫn cố tình không trả, hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo giá trị tài sản và các tình tiết cụ thể.
Đối với số tiền từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, người cố tình chiếm giữ trái phép có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Nếu tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên, hình phạt có thể lên đến 5 năm tù.
Vụ việc người đàn ông bị khởi tố vì nhận 15 triệu đồng chuyển nhầm nhưng không trả lại là lời cảnh báo rõ ràng: số tiền không cần quá lớn, chỉ cần đạt ngưỡng luật định và người nhận cố tình chiếm giữ sau khi đã được yêu cầu hoàn trả thì hoàn toàn có thể bị xử lý hình sự.
Đối với người chuyển nhầm, cần nhanh chóng lưu giữ chứng cứ, yêu cầu ngân hàng tra soát, liên hệ người nhận bằng phương thức phù hợp và trình báo cơ quan công an khi có dấu hiệu cố tình chiếm giữ.
Đối với người nhận, tuyệt đối không sử dụng khoản tiền không rõ nguồn gốc. Hãy chủ động liên hệ ngân hàng hoặc cơ quan công an để xác minh và hoàn trả theo đúng quy trình.
Đừng vì lòng tham trước một khoản tiền không thuộc về mình mà phải đánh đổi bằng tiền phạt, án tích, thậm chí là hình phạt tù.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0972810901 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
