Khi bố mẹ qua đời, nhiều gia đình mới tìm thấy một tờ giấy có nội dung phân chia nhà đất, tiền bạc hoặc tài sản cho các con. Văn bản có thể được bố mẹ tự viết hoặc đánh máy, phía cuối chỉ có chữ ký của bố mẹ, không có chữ ký của các con, không có người làm chứng, không công chứng và cũng không có xác nhận của UBND xã. Từ đây thường phát sinh tranh cãi: “Di chúc chỉ có chữ ký của bố mẹ thì có giá trị không?”, “Các con không ký thì có được chia theo di chúc không?”, “Không công chứng thì di chúc có bị vô hiệu?”, “Bố mẹ cùng ký một bản di chúc để lại đất cho con có được không?”.
Không ít người cho rằng di chúc muốn hợp pháp bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực. Một số người lại cho rằng chỉ cần có chữ ký của bố mẹ thì chắc chắn tài sản phải được chia đúng theo nội dung tờ giấy. Cả hai cách hiểu này đều chưa đầy đủ.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, một di chúc có hợp pháp hay không không thể chỉ nhìn vào việc có chữ ký hay con dấu. Phải xem xét đồng thời người lập di chúc có minh mẫn, tự nguyện hay không; nội dung có vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội không; hình thức có đúng quy định không; người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản hay không và di chúc thuộc loại nào.
Vì vậy, di chúc chỉ có chữ ký của bố mẹ vẫn có thể hợp pháp, nhưng không phải trong mọi trường hợp cứ có chữ ký của bố mẹ là đương nhiên có giá trị. Đặc biệt, nếu bố và mẹ cùng lập một văn bản để định đoạt tài sản chung thì cần kiểm tra rất kỹ thời điểm lập di chúc và quy định pháp luật áp dụng.
Di chúc chỉ có chữ ký của bố mẹ có hợp pháp không?
Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 xác định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Như vậy, bản chất của di chúc là hành vi pháp lý thể hiện ý chí của chính người có tài sản. Người được hưởng di sản không phải là bên cùng giao kết với người lập di chúc như trong hợp đồng. Do đó, không có quy định chung nào yêu cầu một bản di chúc muốn có hiệu lực thì tất cả các con hoặc những người được hưởng thừa kế phải cùng ký tên. Bố hoặc mẹ hoàn toàn có thể lập di chúc định đoạt tài sản thuộc quyền của mình mà không cần xin chữ ký đồng ý của các con.
Tuy nhiên, chữ ký chỉ là một yếu tố để đánh giá hình thức và tính xác thực của văn bản. Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp phải đáp ứng những điều kiện cơ bản: người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Vì vậy, khi nhìn thấy một tờ giấy có chữ ký của bố hoặc mẹ, không nên lập tức kết luận “có chữ ký nên chắc chắn hợp pháp”. Cần tiếp tục kiểm tra ai là người lập, văn bản do ai viết, có người làm chứng hay không, tài sản được định đoạt thuộc quyền của ai, thời điểm lập, tình trạng sức khỏe và khả năng nhận thức của người lập di chúc.
Ví dụ, ông A tự tay viết toàn bộ bản di chúc, ghi rõ ngày tháng năm lập, thông tin tài sản và người được hưởng, sau đó ký tên. Nếu tại thời điểm lập ông hoàn toàn minh mẫn, tự nguyện, nội dung và hình thức đáp ứng quy định thì việc di chúc không có chữ ký của các con hoặc không được công chứng không phải tự thân là lý do làm di chúc vô hiệu.
Di chúc không công chứng, chứng thực có giá trị pháp luật không?
Một trong những quan niệm phổ biến nhất là: “Di chúc không có dấu đỏ của UBND hoặc công chứng viên thì không có giá trị.” Pháp luật hiện hành không quy định như vậy đối với mọi di chúc. Khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này. Như vậy, công chứng hoặc chứng thực không phải là điều kiện bắt buộc đối với tất cả các bản di chúc bằng văn bản.
Điều 628 BLDS 2015 cũng ghi nhận nhiều hình thức di chúc bằng văn bản, gồm di chúc không có người làm chứng; di chúc có người làm chứng; di chúc có công chứng và di chúc có chứng thực. Điều đó cho thấy pháp luật thừa nhận cả di chúc bằng văn bản không công chứng, không chứng thực nếu được lập đúng điều kiện tương ứng.
Tuy nhiên, giữa việc “có thể hợp pháp” và việc “dễ chứng minh là hợp pháp khi xảy ra tranh chấp” là hai vấn đề khác nhau. Một bản di chúc đã được công chứng hoặc chứng thực thường có lợi thế về mặt chứng cứ khi xảy ra tranh chấp, bởi quá trình lập văn bản đã có sự tham gia của cơ quan, người có thẩm quyền theo trình tự luật định. Trong khi đó, đối với một tờ di chúc viết tay chỉ có chữ ký, khi một người thừa kế phản đối và cho rằng chữ ký bị giả, người lập di chúc không minh mẫn hoặc văn bản được tạo lập sau khi người để lại di sản chết thì tranh chấp có thể trở nên phức tạp. Do đó, không công chứng không đồng nghĩa với vô hiệu, nhưng nếu tài sản có giá trị lớn, đặc biệt là nhà đất, việc lập di chúc chặt chẽ về hình thức sẽ giúp hạn chế đáng kể nguy cơ tranh chấp sau này.
Di chúc chỉ có chữ ký, không có người làm chứng có hợp pháp không?
Muốn trả lời câu hỏi này phải xác định di chúc được lập theo hình thức nào. Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp người lập di chúc tự viết và ký vào bản di chúc thì có thể lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng. Việc lập loại di chúc này phải tuân theo Điều 631 về nội dung của di chúc. Điều này có nghĩa rằng nếu bố tự tay viết toàn bộ bản di chúc và ký tên thì về nguyên tắc pháp luật không bắt buộc phải có người làm chứng chỉ vì văn bản không được công chứng.
Nhưng tình huống sẽ khác nếu bố hoặc mẹ không tự mình viết bản di chúc. Điều 634 BLDS 2015 quy định trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết, đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng.
Ví dụ, gia đình tìm thấy một bản di chúc được đánh máy, phía cuối chỉ có chữ ký của người cha, không có công chứng, chứng thực và cũng không có chữ ký của người làm chứng. Không thể áp dụng máy móc quy định về di chúc tự viết để cho rằng chỉ cần chữ ký của người cha là đủ. Phải xác định hình thức lập văn bản và đối chiếu với Điều 634 BLDS. Vì vậy, khi kiểm tra một bản di chúc “chỉ có chữ ký”, câu hỏi đầu tiên phải là: Ai đã viết hoặc đánh máy bản di chúc này?
Bố mẹ cùng ký chung một bản di chúc có được không?
Đây là vấn đề cần đặc biệt thận trọng vì pháp luật đã có sự thay đổi. Bộ luật Dân sự 2005 trước đây có các quy định riêng về di chúc chung của vợ chồng, trong đó Điều 663 quy định vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành không còn thiết kế chế định di chúc chung của vợ chồng như BLDS 2005.
Trong khi đó, Điều 624 BLDS 2015 xác định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Điều 609 cũng ghi nhận cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Vì vậy, nếu hiện nay bố mẹ muốn định đoạt tài sản, phương án pháp lý an toàn là mỗi người lập di chúc riêng đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình, thay vì sử dụng một “di chúc chung vợ chồng” theo cách hiểu từ quy định cũ.
Tuy nhiên, nếu gia đình đang có một bản di chúc do bố và mẹ cùng ký từ nhiều năm trước thì không được chỉ vì BLDS 2015 không còn quy định về di chúc chung mà lập tức kết luận bản di chúc vô hiệu. Phải xác định chính xác thời điểm di chúc được lập, pháp luật có hiệu lực tại thời điểm đó và các quy định chuyển tiếp có liên quan.
Đây là lý do khi tranh chấp một bản di chúc cũ, ngày lập di chúc có thể trở thành một trong những thông tin quan trọng nhất. Một bản di chúc chung được lập trong thời kỳ BLDS 2005 điều chỉnh phải được đánh giá trong đúng bối cảnh pháp luật tương ứng, không thể đơn giản lấy quy định hiện hành để phủ nhận toàn bộ giá trị pháp lý của văn bản.
Các con không ký vào di chúc thì có làm di chúc vô hiệu không?
Di chúc không phải là hợp đồng phân chia di sản giữa bố mẹ và các con. Đây là sự thể hiện ý chí đơn phương của người để lại tài sản cho thời điểm sau khi họ chết. Vì vậy, về nguyên tắc, bố mẹ không cần lấy chữ ký đồng ý của các con mới có quyền lập di chúc đối với tài sản thuộc quyền định đoạt của mình.
Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế và chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Do đó, việc một người con nói “Tôi không ký vào di chúc nên tôi không công nhận” không làm bản di chúc tự động mất hiệu lực. Nếu di chúc đáp ứng đầy đủ điều kiện hợp pháp thì việc một người thừa kế không đồng ý với nội dung di chúc không phải là căn cứ pháp lý để phủ nhận văn bản.
Tuy nhiên, người thừa kế vẫn có quyền yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của di chúc nếu có căn cứ cho rằng chữ ký bị giả, người lập không minh mẫn, bị ép buộc, hình thức lập di chúc vi phạm pháp luật, tài sản được định đoạt không thuộc quyền của người lập hoặc tồn tại căn cứ khác làm di chúc không có hiệu lực toàn bộ hay một phần. Nói cách khác, không ký vào di chúc và có căn cứ pháp luật để phản đối di chúc là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Có chữ ký của bố mẹ nhưng trường hợp nào di chúc vẫn có thể không hợp pháp?
Chữ ký không phải “tấm vé bảo đảm” tuyệt đối cho hiệu lực của di chúc. Một bản di chúc dù có chữ ký thật của bố hoặc mẹ vẫn có thể phát sinh vấn đề pháp lý nếu không đáp ứng các điều kiện tại Điều 630 BLDS.
Trường hợp điển hình là người lập di chúc tại thời điểm ký không minh mẫn, sáng suốt, hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Ví dụ, người cha đang mắc bệnh nặng, khả năng nhận thức bị ảnh hưởng nghiêm trọng; một người con chuẩn bị sẵn văn bản rồi ép cha ký để toàn bộ đất cho mình. Nếu có đủ chứng cứ chứng minh việc lập di chúc không phản ánh ý chí tự nguyện, việc chữ ký đúng là của người cha chưa đủ để bảo đảm di chúc hợp pháp.
Một trường hợp khác là vi phạm hình thức. Như đã phân tích, nếu người lập không tự viết mà văn bản được đánh máy hoặc nhờ người khác viết thì phải xem xét yêu cầu về người làm chứng theo Điều 634. Nếu chỉ nhìn thấy chữ ký rồi bỏ qua cách thức hình thành văn bản, rất dễ đánh giá sai giá trị pháp lý của di chúc.
Ngoài ra, Điều 631 BLDS quy định di chúc phải có các nội dung chủ yếu như ngày, tháng, năm lập; họ tên và nơi cư trú của người lập; họ tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu có nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp có tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. Do vậy, khi tranh chấp, phải kiểm tra toàn bộ văn bản, không chỉ kiểm tra trang cuối có chữ ký.
Bố mẹ chỉ được định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong các tranh chấp di chúc liên quan đến nhà đất. Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì vậy, một người chỉ có thể để lại bằng di chúc phần tài sản thực sự thuộc quyền của mình. Ví dụ, một thửa đất là tài sản chung của bố và mẹ, mỗi người có quyền đối với phần tài sản trong khối tài sản chung theo quy định. Nếu chỉ người bố lập di chúc tuyên bố “để lại toàn bộ thửa đất cho con trai A” thì không thể chỉ dựa vào câu chữ này để kết luận A được hưởng toàn bộ thửa đất. Trước tiên phải xác định phần quyền của người bố trong tài sản chung. Di chúc chỉ có thể phát sinh hiệu lực đối với phần tài sản thuộc di sản của bố, trừ khi có căn cứ khác làm thay đổi quyền sở hữu.
Tương tự, có trường hợp Giấy chứng nhận đứng tên bố nhưng nguồn gốc thực tế là tài sản chung vợ chồng. Việc Giấy chứng nhận chỉ đứng tên một người không phải lúc nào cũng đồng nghĩa toàn bộ quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người đó. Khi tranh chấp thừa kế, Tòa án có thể phải xác định nguồn gốc và chế độ sở hữu trước, sau đó mới xác định khối di sản để chia.
Cũng có trường hợp tài sản là di sản chưa chia của ông bà hoặc thuộc đồng sở hữu với người khác nhưng người lập di chúc lại ghi để lại toàn bộ tài sản cho một người con. Khi đó, phần định đoạt vượt quá quyền của người lập không thể chỉ nhờ chữ ký mà trở thành hợp pháp. Do vậy, khi kiểm tra di chúc về nhà đất phải làm đồng thời hai việc: kiểm tra di chúc có hợp pháp không và kiểm tra người lập di chúc thực sự có quyền đối với bao nhiêu phần tài sản.
Có di chúc hợp pháp thì có phải mọi người đều được chia đúng hoàn toàn theo di chúc?
Không phải trong mọi trường hợp. Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Theo đó, con chưa thành niên; cha, mẹ; vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động của người lập di chúc thuộc trường hợp luật định có thể vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, nếu họ không được người lập di chúc cho hưởng hoặc chỉ được hưởng ít hơn mức này, trừ các trường hợp luật loại trừ. Ví dụ, người bố lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ phần tài sản của mình cho một người con. Nhưng tại thời điểm mở thừa kế, người mẹ là vợ hợp pháp của bố vẫn còn sống. Khi đó, không thể chỉ nói “di chúc cho hết người con nên mẹ không được hưởng gì”. Phải tiếp tục kiểm tra người mẹ có thuộc Điều 644 hay không và xác định phần di sản bắt buộc theo quy định.
Đây là điểm nhiều gia đình nhầm lẫn giữa hai vấn đề: di chúc hợp pháp và toàn bộ nội dung định đoạt trong di chúc được thực hiện nguyên trạng. Một bản di chúc có thể hợp pháp nhưng khi phân chia di sản vẫn phải tính đến quyền của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc.
Ngoài ra, Điều 643 BLDS quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế và cũng quy định những trường hợp di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần, chẳng hạn người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế; hoặc di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, việc xác định “di chúc hợp pháp” mới chỉ là một bước. Sau đó vẫn phải kiểm tra hiệu lực của di chúc tại thời điểm mở thừa kế và cách phân chia di sản cụ thể.
Khi xảy ra tranh chấp về di chúc chỉ có chữ ký của bố mẹ phải làm gì?
Khi có tranh chấp, việc đầu tiên là phải giữ bản gốc di chúc. Không nên viết thêm, tẩy xóa, đóng thêm dấu hoặc tự ý chỉnh sửa bất kỳ nội dung nào. Nếu tranh chấp về chữ ký, bản gốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc xem xét, giám định. Tiếp theo phải xác định chính xác thời điểm lập di chúc. Đây là căn cứ để xác định văn bản pháp luật điều chỉnh, đặc biệt nếu đó là di chúc được lập từ thời kỳ Bộ luật Dân sự 2005 hoặc pháp luật trước đó còn hiệu lực. Với trường hợp bố mẹ cùng ký một văn bản, bước này càng quan trọng.
Sau đó cần kiểm tra cách thức lập: bố mẹ tự viết hay người khác viết; văn bản viết tay hay đánh máy; có người làm chứng hay không; có công chứng, chứng thực không; ai có mặt khi lập; tình trạng sức khỏe của người lập tại thời điểm đó như thế nào. Hồ sơ bệnh án, tài liệu khám chữa bệnh, lời khai người chứng kiến và những tài liệu được lập cùng thời điểm có thể có giá trị quan trọng khi tranh chấp về khả năng nhận thức.
Đối với nhà đất, phải thu thập Giấy chứng nhận, hồ sơ nguồn gốc đất, giấy tờ tạo lập tài sản, tài liệu về quan hệ hôn nhân và các giấy tờ khác để xác định chính xác phần tài sản thuộc quyền định đoạt của từng người. Nếu một bên cho rằng chữ ký bị giả, cần xem xét yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết theo trình tự tố tụng. Nếu cho rằng người lập bị ép buộc hoặc không minh mẫn thì phải đưa ra chứng cứ tương ứng, không thể chỉ nói rằng “lúc đó bố tôi già rồi nên chắc chắn không biết gì”.
Trong tranh chấp thừa kế, một sai lầm rất phổ biến là chỉ tranh luận “chữ ký thật hay giả”. Trên thực tế, chữ ký có thể hoàn toàn thật nhưng di chúc vẫn gặp vấn đề về năng lực nhận thức, sự tự nguyện, hình thức hoặc phạm vi tài sản được định đoạt. Ngược lại, di chúc không công chứng vẫn có thể hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định.
Kết luận
Di chúc chỉ có chữ ký của bố mẹ vẫn có thể hợp pháp. Pháp luật không quy định mọi di chúc đều bắt buộc phải được công chứng, chứng thực và cũng không yêu cầu các con phải ký đồng ý thì bố mẹ mới được lập di chúc.
Tuy nhiên, có chữ ký không đồng nghĩa chắc chắn di chúc hợp pháp. Muốn xác định giá trị của một bản di chúc phải kiểm tra đồng thời nhiều yếu tố theo Bộ luật Dân sự 2015: người lập có minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện không; văn bản được tự viết hay đánh máy; trường hợp đó có bắt buộc người làm chứng không; nội dung và hình thức có đúng pháp luật không; tài sản được định đoạt có thực sự thuộc quyền của người lập không. Đặc biệt, nếu bố và mẹ cùng ký chung một bản di chúc, phải xác định chính xác thời điểm lập. Bộ luật Dân sự 2005 từng có quy định về di chúc chung của vợ chồng, trong khi Bộ luật Dân sự 2015 không tiếp tục thiết kế chế định này theo cách cũ. Vì vậy, không thể nhìn vào một bản di chúc cũ rồi áp dụng máy móc pháp luật hiện hành để kết luận hợp pháp hay vô hiệu.
Đối với di chúc liên quan đến nhà đất, còn phải xác định chính xác khối di sản. Bố chỉ được định đoạt tài sản của bố; mẹ chỉ được định đoạt tài sản của mẹ. Nếu tài sản là tài sản chung hoặc còn có quyền của người khác thì phần vượt quá quyền định đoạt phải được xem xét riêng. Cuối cùng, ngay cả khi di chúc hợp pháp, vẫn phải kiểm tra Điều 644 BLDS về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và Điều 643 về hiệu lực của di chúc. Vì vậy, một tờ giấy “có chữ ký của bố mẹ” chỉ là điểm bắt đầu của việc đánh giá pháp lý, không phải là câu trả lời cuối cùng. Nếu gia đình đang có tranh chấp, đừng vội bỏ một bản di chúc chỉ vì không có công chứng, nhưng cũng đừng vội chia tài sản chỉ vì nhìn thấy chữ ký của bố mẹ. Cần kiểm tra toàn bộ quá trình lập di chúc, quyền đối với tài sản và pháp luật áp dụng tại đúng thời điểm.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
📧 Email: [email protected]
