Nhiều người cho rằng một người nếu đã thực hiện hành vi phạm tội từ rất lâu thì sau một khoảng thời gian nhất định sẽ đương nhiên không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa đầy đủ. Theo Bộ luật Hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) được xác định dựa trên mức độ nghiêm trọng của tội phạm và có những trường hợp thời hiệu có thể được tính lại. Đặc biệt, một số tội phạm còn không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS, nghĩa là dù hành vi đã xảy ra trong thời gian rất dài thì người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu theo quy định. Vậy thời hiệu truy cứu TNHS là bao lâu? Trường hợp nào làm gián đoạn hoặc tính lại thời hiệu? Và hết thời hiệu có được miễn tội hay không? Dưới đây là những quy định quan trọng cần biết.
Mức thời hiệu truy cứu TNHS cho từng loại tội phạm theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015
Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Thời gian này không giống nhau đối với tất cả các tội danh mà phụ thuộc vào việc tội phạm được phân loại là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Đây là điểm đầu tiên cần xác định nếu muốn biết một hành vi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa.
05 năm là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng. Đây là nhóm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm. Như vậy, nếu một hành vi thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng thì về nguyên tắc, thời hiệu truy cứu TNHS là 05 năm kể từ ngày tội phạm được thực hiện, trừ trường hợp có quy định khác về việc tính lại thời hiệu hoặc tội phạm thuộc nhóm không áp dụng thời hiệu.
10 năm là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng. Đây là nhóm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn hơn tội ít nghiêm trọng, với mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù. Vì vậy, khi xác định một vụ việc đã xảy ra hơn 05 năm nhưng chưa đến 10 năm, không thể chỉ dựa vào thời gian đã trôi qua để kết luận người thực hiện hành vi đã hết thời hiệu. Nếu tội danh thuộc loại tội phạm nghiêm trọng thì thời hiệu thông thường có thể kéo dài đến 10 năm.
15 năm là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng. Đây là những tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, với mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù. Với nhóm tội này, thời gian 10 năm chưa phải là giới hạn cuối cùng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu chưa có căn cứ làm thay đổi việc tính thời hiệu thì thời hiệu theo quy định chung có thể kéo dài đến 15 năm kể từ ngày tội phạm được thực hiện.
20 năm là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đây là nhóm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, với mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Đây cũng là thời hiệu dài nhất theo quy định chung tại Điều 27 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng 20 năm không phải là thời hạn áp dụng cho mọi tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, bởi Điều 28 Bộ luật Hình sự còn quy định một số tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì sao phải xác định đúng loại tội phạm trước khi tính thời hiệu?
Muốn biết một người có còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, không thể chỉ nhìn vào số năm kể từ ngày xảy ra vụ việc. Bước đầu tiên phải xác định hành vi bị cho là phạm tội thuộc điều khoản nào của Bộ luật Hình sự và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là bao nhiêu. Từ đó mới xác định được tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng và áp dụng thời hiệu tương ứng.
Điều này đặc biệt quan trọng bởi cùng là hành vi có tính chất tương tự nhưng nếu thuộc các khoản khác nhau của một điều luật thì mức hình phạt có thể khác nhau, kéo theo việc phân loại tội phạm và thời hiệu cũng có thể khác nhau. Vì vậy, việc chỉ nói “vụ việc đã xảy ra 10 năm rồi” chưa đủ để kết luận người đó đã hết thời hiệu. Phải đặt mốc 10 năm đó vào đúng tội danh, khung hình phạt và các quy định về tính thời hiệu của Bộ luật Hình sự.
Thời hiệu truy cứu TNHS được tính từ ngày nào?
Theo Điều 27 Bộ luật Hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Đây là nguyên tắc cơ bản để xác định thời gian truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong những vụ án xảy ra từ nhiều năm trước, việc xác định chính xác “ngày tội phạm được thực hiện” đôi khi không đơn giản, đặc biệt đối với những hành vi diễn ra trong một khoảng thời gian dài hoặc có nhiều lần thực hiện.
Do đó, khi tính thời hiệu cần xác định đúng thời điểm hành vi phạm tội hoàn thành hoặc thời điểm thực hiện hành vi theo bản chất pháp lý của từng tội danh. Không nên mặc nhiên lấy ngày cơ quan công an phát hiện vụ việc, ngày nhận đơn tố giác hoặc ngày khởi tố vụ án làm ngày bắt đầu tính thời hiệu. Mốc tính thời hiệu phải được xác định theo quy định của Bộ luật Hình sự và đặc điểm cụ thể của hành vi phạm tội.
02 trường hợp làm gián đoạn hoặc tính lại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Không phải thời hiệu cứ bắt đầu tính là sẽ chạy liên tục cho đến khi đủ 05, 10, 15 hoặc 20 năm. Điều 27 Bộ luật Hình sự quy định những trường hợp đặc biệt khiến thời hiệu phải được tính lại. Đây là điểm rất quan trọng bởi nếu bỏ qua những trường hợp này, việc kết luận một vụ án đã hết thời hiệu có thể hoàn toàn sai.
Trường hợp thứ nhất, người phạm tội thực hiện tội phạm mới trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu trong thời hạn luật định, người phạm tội lại thực hiện một tội phạm mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó trên 01 năm tù thì thời hiệu đối với tội phạm cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện tội phạm mới. Điều này có nghĩa là hành vi phạm tội mới có thể làm thay đổi mốc tính thời hiệu đối với hành vi phạm tội trước đó.
Ví dụ, một người thực hiện hành vi phạm tội vào năm 2018 và tội phạm này có thời hiệu truy cứu TNHS là 10 năm. Đến năm 2024, khi thời hiệu của tội cũ vẫn chưa hết, người này lại thực hiện một tội phạm mới đáp ứng điều kiện theo Điều 27. Khi đó, không thể tiếp tục đơn giản lấy năm 2018 làm mốc để tính đủ 10 năm. Thời hiệu đối với tội phạm cũ sẽ được tính lại từ thời điểm thực hiện tội phạm mới theo quy định pháp luật.
Trường hợp thứ hai, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã. Nếu trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu sẽ được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Đây là quy định nhằm tránh tình trạng người phạm tội cố tình trốn khỏi sự truy cứu của cơ quan có thẩm quyền rồi chờ cho hết thời hiệu.
Vì vậy, nếu một người phạm tội rồi bỏ trốn trong nhiều năm, không thể chỉ lấy khoảng thời gian bỏ trốn để kết luận rằng người đó đã hết thời hiệu. Cần xác định người đó có bị truy nã hay không, quyết định truy nã được ban hành khi nào và thời điểm người đó đầu thú hoặc bị bắt giữ. Những dữ kiện này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 28 Bộ luật Hình sự
Một trong những nội dung đặc biệt quan trọng khi tìm hiểu về thời hiệu là không phải mọi tội phạm đều có thời hiệu. Điều 28 Bộ luật Hình sự quy định những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đối với các tội thuộc nhóm này, việc hành vi đã xảy ra cách đây 10 năm, 20 năm hoặc thậm chí lâu hơn không đồng nghĩa với việc người thực hiện hành vi đương nhiên không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định, các tội xâm phạm an ninh quốc gia thuộc Chương XIII của Bộ luật Hình sự; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh thuộc Chương XXVI là những nhóm tội không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là những hành vi có tính chất đặc biệt nghiêm trọng nên pháp luật không đặt ra giới hạn thời gian truy cứu giống như các nhóm tội phạm thông thường.
Ngoài ra, Điều 28 còn quy định tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 cũng không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là điểm rất đáng chú ý bởi không phải mọi trường hợp của tội tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ đều mặc nhiên không có thời hiệu, mà phải xem xét đúng khoản, đúng trường hợp mà điều luật quy định.
Hết thời hiệu có được miễn tội không?
Đây là câu hỏi được rất nhiều người quan tâm. Cần khẳng định rằng hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc người đó được xác định là không phạm tội. Nếu một hành vi đã hết thời hiệu và thuộc trường hợp được áp dụng quy định về thời hiệu thì người thực hiện hành vi không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó theo quy định. Tuy nhiên, điều này khác với việc cơ quan tiến hành tố tụng kết luận người đó không thực hiện hành vi phạm tội.
Đồng thời, “hết thời hiệu” cũng cần phân biệt với “miễn trách nhiệm hình sự”. Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định riêng được quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự, áp dụng khi có những căn cứ mà pháp luật quy định. Trong khi đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là giới hạn về thời gian mà Nhà nước có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội. Hai khái niệm này có bản chất pháp lý khác nhau và không nên sử dụng thay thế cho nhau.
Nói một cách dễ hiểu, nếu một người thực hiện hành vi thuộc trường hợp đã hết thời hiệu thì vấn đề pháp lý đặt ra là không còn thời hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không phải pháp luật “xóa” hành vi đã xảy ra hoặc tuyên bố rằng hành vi đó chưa từng là tội phạm. Đây là sự khác biệt rất quan trọng khi tư vấn hoặc giải quyết một vụ án cụ thể.
Vụ án xảy ra 20 năm trước có chắc chắn hết thời hiệu không?
Câu trả lời là không chắc chắn. 20 năm là thời hiệu theo quy định chung đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nhưng trước khi kết luận hết thời hiệu phải kiểm tra xem tội phạm đó có thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu hay không. Nếu thuộc Điều 28 Bộ luật Hình sự thì không thể lấy mốc 20 năm để kết luận người phạm tội không còn bị truy cứu.
Bên cạnh đó, nếu trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội thực hiện tội phạm mới đáp ứng điều kiện luật định hoặc cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu có thể được tính lại. Vì vậy, một hành vi xảy ra cách đây 20 năm vẫn cần được kiểm tra toàn bộ diễn biến pháp lý trước khi đưa ra kết luận về thời hiệu.
Làm thế nào để biết một người đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự?
Để xác định chính xác một người đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa, cần thực hiện theo một trình tự nhất định. Trước tiên phải xác định chính xác hành vi bị cho là phạm tội, điều luật được áp dụng và mức cao nhất của khung hình phạt. Sau đó xác định tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để xác định thời hiệu tương ứng là 05 năm, 10 năm, 15 năm hay 20 năm.
Tiếp theo, phải xác định thời điểm tội phạm được thực hiện để tính mốc ban đầu. Sau đó cần rà soát xem trong thời hạn này người phạm tội có thực hiện tội phạm mới thuộc trường hợp làm tính lại thời hiệu hay không, có cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã hay không. Cuối cùng phải kiểm tra xem tội danh có thuộc nhóm không áp dụng thời hiệu theo Điều 28 Bộ luật Hình sự hay không. Chỉ sau khi hoàn thành đầy đủ các bước này mới có thể kết luận một vụ việc đã hết thời hiệu hay chưa.
Vai trò của luật sư khi vụ án có tranh chấp về thời hiệu
Trong những vụ án xảy ra từ nhiều năm trước, vấn đề thời hiệu có thể trở thành một nội dung quan trọng trong chiến lược bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội. Luật sư có thể rà soát hồ sơ, xác định thời điểm thực hiện hành vi, phân loại tội phạm và kiểm tra toàn bộ các sự kiện có khả năng làm thay đổi cách tính thời hiệu.
Đặc biệt, trong những trường hợp có tình tiết bỏ trốn, truy nã, đầu thú hoặc thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau, việc tính thời hiệu càng cần được phân tích cẩn trọng. Chỉ một mốc thời gian được xác định khác đi cũng có thể dẫn đến kết quả pháp lý hoàn toàn khác về việc một người còn hay không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, nếu vụ án đã xảy ra từ nhiều năm trước nhưng hiện nay cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành xử lý, người bị buộc tội và gia đình không nên chỉ dựa vào suy nghĩ “đã lâu rồi thì chắc chắn hết thời hiệu”. Cần kiểm tra cụ thể tội danh, khung hình phạt, thời điểm phạm tội, tình trạng truy nã và các sự kiện phát sinh sau đó để đánh giá chính xác.
Kết luận
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 và phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Theo đó, thời hiệu là 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thời hiệu được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, nhưng trong một số trường hợp có thể được tính lại.
Đáng chú ý, thời hiệu có thể được tính lại khi người phạm tội thực hiện tội phạm mới đáp ứng điều kiện luật định hoặc khi người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã. Bên cạnh đó, Điều 28 Bộ luật Hình sự quy định một số tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và một số trường hợp đặc biệt của tội tham ô tài sản, nhận hối lộ.
Do đó, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với “được miễn tội” hay được xác định là không phạm tội. Đây là một chế định pháp lý riêng, cần phân biệt với miễn trách nhiệm hình sự. Nếu một vụ án đã xảy ra từ nhiều năm trước, muốn biết chính xác người thực hiện hành vi còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không thì phải đối chiếu toàn bộ các yếu tố liên quan thay vì chỉ căn cứ vào số năm đã trôi qua.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0972810901 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
