Khi Nhà nước thực hiện dự án mở đường, xây dựng công trình công cộng, quốc phòng, an ninh hoặc các dự án thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, không phải lúc nào toàn bộ thửa đất của người dân cũng nằm trong phạm vi thu hồi. Có trường hợp một thửa đất 300m² chỉ bị thu hồi 100m²; 200m² còn lại vẫn nằm ngoài ranh giới dự án. Nhưng cũng có trường hợp sau khi thu hồi, phần đất còn lại chỉ còn vài chục mét vuông, méo mó, không đủ mặt tiền, không thể xây nhà hoặc việc tiếp tục sử dụng gặp rất nhiều khó khăn.
Từ đó phát sinh một câu hỏi rất thực tế: Nhà nước thu hồi không hết thửa đất thì phần đất còn lại xử lý thế nào? Người dân có được yêu cầu Nhà nước thu hồi nốt không? Nếu diện tích còn lại quá nhỏ thì có được bồi thường? Nhà bị cắt một phần, phần còn lại không bảo đảm sử dụng thì xử lý ra sao? Và cứ thu hồi một phần đất ở có được bố trí tái định cư hay không?
Luật Đất đai 2024 đã có quy định trực tiếp về vấn đề này. Đặc biệt, khoản 7 Điều 91 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo Điều 78 và Điều 79 mà phần diện tích còn lại của thửa đất sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh thì, nếu người sử dụng đất đồng ý thu hồi, UBND có thẩm quyền quyết định thu hồi phần diện tích còn lại và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, quản lý diện tích đó theo pháp luật. Như vậy, vấn đề không đơn giản là “thu hồi một phần thì phần còn lại người dân phải tự chịu”. Cần kiểm tra diện tích, kích thước, điều kiện sử dụng của phần đất còn lại, quy định của địa phương và ảnh hưởng thực tế của việc thu hồi.
Nhà nước có được thu hồi chỉ một phần thửa đất không?
Pháp luật đất đai không quy định rằng khi thu hồi đất thì bắt buộc phải thu hồi toàn bộ thửa đất. Phạm vi thu hồi trước hết phụ thuộc vào căn cứ thu hồi, ranh giới và diện tích đất cần sử dụng cho dự án. Do đó, nếu dự án chỉ cần sử dụng một phần thửa đất thì Nhà nước có thể ban hành quyết định thu hồi đối với phần diện tích đó, còn phần nằm ngoài phạm vi thu hồi về nguyên tắc vẫn thuộc quyền sử dụng của người dân.
Ví dụ, gia đình A có thửa đất 400m², trong đó có 150m² đất ở. Dự án mở rộng đường giao thông đi qua phía trước thửa đất và cần thu hồi 80m². Nếu ranh giới dự án chỉ ảnh hưởng đến 80m² thì việc Nhà nước thu hồi 80m², thay vì thu hồi toàn bộ 400m², về nguyên tắc không phải là bất thường. Vấn đề cần kiểm tra tiếp theo là 320m² còn lại có tiếp tục sử dụng bình thường được hay không, loại đất còn lại là gì, nhà và công trình có bị ảnh hưởng không.
Việc thu hồi một phần thửa đất còn làm phát sinh yêu cầu chỉnh lý hồ sơ địa chính. Sau khi quyết định thu hồi được thực hiện, diện tích, kích thước và ranh giới thửa đất còn lại phải được xác định lại theo hồ sơ đo đạc, đăng ký đất đai. Người sử dụng đất không còn quyền đối với phần đã bị Nhà nước thu hồi nhưng tiếp tục có quyền đối với phần đất hợp pháp còn lại theo quy định.
Điều cần đặc biệt lưu ý là không nên chỉ nhìn vào số mét vuông bị thu hồi. Có những trường hợp chỉ thu hồi 30m² nhưng lại lấy toàn bộ mặt tiền của thửa đất, ảnh hưởng trực tiếp đến nhà ở, lối vào hoặc công trình. Ngược lại, có trường hợp thu hồi diện tích lớn nhưng phần còn lại vẫn vuông vắn và sử dụng bình thường. Vì vậy, khi đánh giá quyền lợi, phải xem cả diện tích và hiện trạng thực tế sau thu hồi.
Phần đất còn lại quá nhỏ thì người dân có được yêu cầu Nhà nước thu hồi luôn không?
Đây là trường hợp Luật Đất đai 2024 đã quy định tương đối rõ. Khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai 2024 quy định: khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 78 hoặc Điều 79 mà phần diện tích còn lại của thửa đất sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh tại khoản 2 Điều 220, nếu người sử dụng đất đồng ý thu hồi thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi phần diện tích còn lại và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, quản lý diện tích đó theo quy định. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích này được tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án.
Ví dụ, một gia đình có 100m² đất ở. Dự án thu hồi 75m², chỉ còn 25m². Giả sử theo quy định của UBND cấp tỉnh tại địa phương, diện tích còn lại này nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định có liên quan. Nếu người sử dụng đất đồng ý để Nhà nước thu hồi nốt 25m² thì UBND có thẩm quyền có cơ sở quyết định thu hồi phần đất còn lại và thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo pháp luật.
Quy định này rất quan trọng vì nếu không có cơ chế xử lý thì người dân có thể bị để lại một phần đất rất nhỏ, gần như không còn khả năng khai thác độc lập. Luật Đất đai 2024 vì vậy đã tạo cơ sở để xử lý phần diện tích còn lại thay vì buộc người dân phải tiếp tục giữ một thửa đất quá nhỏ.
Tuy nhiên, cần đọc chính xác điều kiện luật định. Không phải cứ người dân cho rằng “đất còn lại khó sử dụng” là đương nhiên có quyền buộc Nhà nước phải thu hồi. Trường hợp tại khoản 7 Điều 91 gắn với tiêu chí phần diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh và sự đồng ý của người sử dụng đất. Do đó, phải đối chiếu quy định cụ thể của địa phương nơi có đất.
Đất còn lại đủ diện tích nhưng méo mó, không xây được nhà thì xử lý thế nào?
Đây là tình huống phức tạp hơn. Ví dụ, gia đình có thửa đất 150m², mặt tiền 7m. Sau khi mở đường, Nhà nước thu hồi một phần khiến diện tích còn lại là 70m². Xét đơn thuần về số mét vuông, 70m² có thể vẫn lớn hơn diện tích tối thiểu. Tuy nhiên, phần đất còn lại có hình tam giác, mặt tiền rất hẹp hoặc bị ảnh hưởng bởi hành lang bảo vệ công trình nên gia đình cho rằng thực tế không thể xây dựng nhà ở.
Trong trường hợp này, không nên lập luận đơn giản rằng “đất không sử dụng được nên Nhà nước bắt buộc phải thu hồi”. Khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai 2024 quy định trực tiếp trường hợp phần diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu. Nếu diện tích còn lại vẫn vượt mức này thì cần kiểm tra thêm quy định của địa phương, hồ sơ dự án, quy hoạch, điều kiện xây dựng và các chính sách bồi thường, hỗ trợ áp dụng cho dự án cụ thể. Không nên mở rộng điều luật thành một quyền yêu cầu thu hồi toàn bộ trong mọi trường hợp đất có hình dạng xấu.
Tuy nhiên, người dân hoàn toàn có thể yêu cầu cơ quan thực hiện bồi thường làm rõ hiện trạng phần đất còn lại. Nếu cho rằng phương án bồi thường chưa đánh giá đúng ảnh hưởng của dự án, cần cung cấp bản trích đo, sơ đồ hiện trạng, kích thước các cạnh, vị trí công trình, lối đi và các tài liệu có liên quan. Một lập luận có bản vẽ và số liệu cụ thể sẽ có giá trị hơn nhiều so với việc chỉ trình bày rằng “đất còn lại rất khó sử dụng”.
Đặc biệt, cần kiểm tra quyết định của UBND cấp tỉnh về điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa và các quy định địa phương có liên quan. Luật Đất đai 2024 giao UBND cấp tỉnh quy định cụ thể điều kiện, diện tích tối thiểu của việc tách thửa, hợp thửa phù hợp với từng loại đất tại địa phương.
Nhà nước thu hồi một phần đất nhưng nhà ở bị ảnh hưởng thì bồi thường thế nào?
Thu hồi một phần đất và bồi thường thiệt hại đối với nhà, công trình là hai vấn đề phải xem xét đồng thời. Có trường hợp chỉ thu hồi một phần nhỏ diện tích đất nhưng đường ranh giới thu hồi lại đi xuyên qua nhà ở. Khi đó, ngoài tiền bồi thường về quyền sử dụng phần đất bị thu hồi nếu đủ điều kiện, còn phải xem xét thiệt hại đối với nhà và công trình xây dựng theo Điều 102 Luật Đất đai 2024 và quy định chi tiết tại Nghị định 88/2024/NĐ-CP.
Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định cụ thể phương pháp bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng bị thiệt hại. Đối với những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh, mức bồi thường được xác định trên cơ sở giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hiện có theo quy định của UBND cấp tỉnh, trong giới hạn mà Nghị định quy định.
Điểm quan trọng là phải đánh giá phần công trình còn lại sau khi phá dỡ. Ví dụ, dự án thu hồi phần trước của căn nhà, buộc phải tháo dỡ một gian. Nếu phần nhà còn lại vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và tiếp tục sử dụng được thì phương án xử lý có thể khác với trường hợp việc tháo dỡ làm toàn bộ kết cấu còn lại không bảo đảm an toàn.
Do đó, khi kiểm kê tài sản, người dân cần yêu cầu ghi nhận chính xác kết cấu nhà, diện tích bị ảnh hưởng, bộ phận phải tháo dỡ và tình trạng phần còn lại. Nếu có tranh luận về khả năng tiếp tục sử dụng công trình, tài liệu chuyên môn về xây dựng có thể rất quan trọng.
Bị thu hồi một phần đất ở có đương nhiên được cấp đất tái định cư không?
Đây là một trong những nhầm lẫn thường gặp nhất. Nhiều người cho rằng chỉ cần Nhà nước thu hồi đất ở thì gia đình đương nhiên được cấp một suất tái định cư. Pháp luật không quy định theo cách đơn giản như vậy.
Việc bố trí tái định cư phải căn cứ điều kiện cụ thể theo Luật Đất đai 2024, Nghị định 88/2024/NĐ-CP và chính sách áp dụng tại địa phương. Một yếu tố đặc biệt quan trọng là việc thu hồi có khiến người có đất ở phải di chuyển chỗ ở hay không và người đó thuộc trường hợp được bồi thường, tái định cư theo quy định nào. Chính sách chính thức của Chính phủ năm 2026 cũng làm rõ rằng việc xem xét hỗ trợ suất tái định cư tối thiểu gắn với các điều kiện cụ thể, trong đó có trường hợp người có đất ở bị thu hồi phải di chuyển chỗ ở.
Ví dụ, một gia đình có 300m² đất ở, Nhà nước thu hồi 30m² phía trước để mở rộng đường, căn nhà phía sau vẫn còn nguyên và gia đình tiếp tục sinh sống bình thường. Chỉ từ việc bị thu hồi 30m² không thể kết luận gia đình chắc chắn được giao một lô đất tái định cư.
Ngược lại, nếu việc thu hồi một phần đất làm căn nhà phải tháo dỡ và gia đình phải di chuyển chỗ ở thì phải tiếp tục xem xét đầy đủ điều kiện bồi thường về đất ở và tái định cư theo quy định. Vì vậy, khi xem phương án bồi thường, không nên chỉ hỏi “Nhà nước lấy bao nhiêu mét vuông?”, mà phải hỏi thêm “Việc thu hồi có làm gia đình phải di chuyển chỗ ở hay không?”.
Phần đất còn lại sau thu hồi có phải làm lại sổ đỏ không?
Sau khi Nhà nước thu hồi một phần thửa đất, thông tin về diện tích và ranh giới quyền sử dụng đất đã thay đổi. Do đó, hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận phải được xử lý, cập nhật theo quy định pháp luật về đăng ký đất đai.
Ví dụ, Giấy chứng nhận ban đầu ghi thửa đất có diện tích 500m² nhưng Nhà nước thu hồi 120m². Sau khi hoàn thành việc thu hồi, quyền sử dụng của người dân chỉ còn đối với diện tích hợp pháp còn lại được xác định theo hồ sơ. Cơ quan đăng ký đất đai sẽ thực hiện việc chỉnh lý, cập nhật hoặc xử lý Giấy chứng nhận theo thủ tục tương ứng.
Đây là bước người dân không nên bỏ qua. Trong thực tế có những trường hợp dự án đã hoàn thành từ lâu nhưng Giấy chứng nhận người dân giữ vẫn ghi diện tích cũ. Đến khi muốn chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc chia thừa kế mới phát hiện số liệu trên Giấy chứng nhận không còn phù hợp với hiện trạng và hồ sơ thu hồi.
Vì vậy, sau khi nhận bàn giao mốc giới phần đất còn lại, người dân nên kiểm tra kỹ diện tích và kích thước thực tế, đối chiếu với hồ sơ đo đạc và thực hiện thủ tục liên quan đến Giấy chứng nhận theo quy định.
Phần đất còn lại bị mất lối đi sau khi Nhà nước thu hồi thì sao?
Đây là vấn đề cần được phát hiện ngay trong quá trình lập và lấy ý kiến về phương án bồi thường.
Ví dụ, trước khi thu hồi, gia đình có lối đi từ nhà ra đường công cộng. Sau khi thực hiện dự án, phần đất có lối đi nằm trong phạm vi bị thu hồi hoặc công trình mới làm thay đổi khả năng tiếp cận của phần đất còn lại. Nếu không được xử lý, phần đất phía trong có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng về khả năng sử dụng.
Trong trường hợp này cần kiểm tra thiết kế dự án, hệ thống đường gom, đường dân sinh, lối tiếp cận và phương án tổ chức giao thông sau khi công trình hoàn thành. Không nên chờ đến khi đã bàn giao mặt bằng và công trình xây dựng xong mới đặt vấn đề về lối đi.
Nếu phần đất còn lại không có lối ra đường công cộng và phải đi qua bất động sản của người khác, còn có thể phát sinh vấn đề về quyền đối với bất động sản liền kề theo Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, trước khi chuyển sang giải quyết quan hệ dân sự với hàng xóm, cần xác định việc mất lối đi có phải là hậu quả trực tiếp từ phương án thu hồi và thiết kế dự án hay không.
Nhà nước chỉ bồi thường phần đất bị thu hồi hay phải bồi thường cả phần đất còn lại bị mất giá trị?
Về nguyên tắc, bồi thường về đất được xác định đối với diện tích đất Nhà nước thu hồi nếu người sử dụng đất đáp ứng điều kiện được bồi thường. Không thể mặc nhiên lấy lý do phần đất còn lại giảm giá thị trường để yêu cầu Nhà nước bồi thường toàn bộ mức chênh lệch giá trị theo suy đoán của người sử dụng đất.
Tuy nhiên, nếu phần diện tích còn lại thuộc trường hợp khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai 2024 và người sử dụng đất đồng ý thu hồi thì UBND có thẩm quyền có thể quyết định thu hồi phần diện tích đó; khi ấy việc bồi thường, hỗ trợ đối với phần được thu hồi thêm được thực hiện theo quy định và kinh phí được tính vào dự án.
Do đó, cần phân biệt hai tình huống. Nếu phần đất còn lại tiếp tục thuộc quyền sử dụng của người dân thì không thể mặc nhiên yêu cầu bồi thường như thể Nhà nước đã thu hồi phần đó. Nếu phần đất còn lại được cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi theo trường hợp pháp luật quy định thì quyền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích này mới được đặt ra trên cơ sở quyết định thu hồi và quy định tương ứng.
Đây là điểm rất quan trọng khi khiếu nại phương án bồi thường. Yêu cầu “bồi thường cả phần đất còn lại vì đất bị mất giá” và yêu cầu “thu hồi phần diện tích còn lại vì thuộc trường hợp khoản 7 Điều 91” là hai yêu cầu pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Người dân không đồng ý với diện tích thu hồi hoặc phương án bồi thường thì làm gì?
Trước tiên cần xác định mình đang không đồng ý với văn bản nào. Có thể người dân không đồng ý với ranh giới, diện tích được xác định trong quyết định thu hồi đất; cũng có thể đồng ý việc thu hồi nhưng không đồng ý loại đất, giá đất, tài sản kiểm kê, mức bồi thường, hỗ trợ hoặc việc không bố trí tái định cư.
Không nên viết một đơn chung chung rằng “tôi không đồng ý với việc đền bù”. Nội dung khiếu nại càng cụ thể thì cơ sở xem xét càng rõ. Nếu tranh chấp nằm ở diện tích, cần có Giấy chứng nhận, bản đồ, trích đo và hồ sơ kỹ thuật. Nếu tranh luận về loại đất, phải kiểm tra hồ sơ địa chính, nguồn gốc và quá trình sử dụng đất. Nếu cho rằng phần đất còn lại không đủ điều kiện sử dụng, phải thể hiện diện tích, kích thước, hình dạng và quy định của UBND cấp tỉnh làm căn cứ.
Tùy loại quyết định, hành vi hành chính và tình trạng vụ việc, người có quyền lợi bị ảnh hưởng có thể thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định. Tuy nhiên, trước khi thực hiện, cần đọc đầy đủ quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để xác định đúng đối tượng cần khiếu nại hoặc khởi kiện.
Khi Nhà nước chỉ thu hồi một phần đất, người dân cần kiểm tra những gì?
Sai lầm phổ biến là chỉ kiểm tra số tiền bồi thường. Trong khi đó, điều quan trọng hơn nhiều là phải biết chính xác mình mất phần nào và còn lại phần nào. Trước khi đồng ý phương án, cần đối chiếu Giấy chứng nhận với bản trích đo thu hồi; kiểm tra diện tích từng loại đất; ranh giới thu hồi chạy qua vị trí nào; nhà và công trình nào bị ảnh hưởng; phần đất còn lại có bao nhiêu mét vuông; chiều rộng, chiều sâu và lối đi ra sao; có thuộc diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh hay không.
Nếu còn nhà ở trên đất thì phải kiểm tra sau khi thu hồi nhà có tiếp tục sử dụng an toàn được không. Nếu phải di chuyển chỗ ở thì cần kiểm tra điều kiện bồi thường và tái định cư. Nếu đất còn lại quá nhỏ thì cần xem xét ngay khả năng áp dụng khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai 2024 thay vì nhận tiền bồi thường xong mới đề nghị xử lý phần đất còn lại.
Có thể ghi nhớ trình tự: Quyết định thu hồi → bản trích đo → diện tích và loại đất bị thu hồi → tài sản bị ảnh hưởng → diện tích, kích thước phần đất còn lại → điều kiện sử dụng → bồi thường, hỗ trợ → tái định cư nếu có → chỉnh lý Giấy chứng nhận.
Luật sư có thể hỗ trợ gì khi Nhà nước thu hồi một phần thửa đất?
Đối với vụ việc thu hồi một phần thửa đất, việc đầu tiên luật sư cần làm không phải chỉ tính số tiền bồi thường mà phải kiểm tra toàn bộ hồ sơ pháp lý của thửa đất và dự án. Trong đó cần đối chiếu Giấy chứng nhận, hồ sơ địa chính, bản trích đo thu hồi, quyết định thu hồi đất, phương án bồi thường và hiện trạng sử dụng đất.
Tiếp theo, phải đánh giá phần diện tích còn lại. Nếu diện tích còn lại nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của địa phương thì cần xem xét cơ sở áp dụng khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai 2024. Nếu diện tích vẫn đủ nhưng nhà, lối đi hoặc công trình bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì phải đánh giá trên những căn cứ pháp lý và kỹ thuật khác, không thể máy móc áp dụng quy định về diện tích tối thiểu.
Trường hợp phương án bồi thường có dấu hiệu xác định sai diện tích, sai loại đất, bỏ sót nhà và công trình, không xem xét đầy đủ tái định cư hoặc không giải quyết phần diện tích còn lại theo đúng quy định, luật sư có thể hỗ trợ xây dựng ý kiến đối với phương án, đơn đề nghị, đơn khiếu nại hoặc hồ sơ khởi kiện hành chính tùy từng giai đoạn.
Nhà nước thu hồi không hết thửa đất, đừng chỉ quan tâm phần bị lấy mà phải kiểm tra cả phần đất còn lại
Nhà nước hoàn toàn có thể thu hồi một phần thửa đất khi phạm vi dự án chỉ cần sử dụng một phần diện tích. Vì vậy, việc “không thu hồi hết sổ đỏ” tự nó không phải căn cứ để cho rằng quyết định thu hồi trái pháp luật.
Vấn đề quan trọng nằm ở phần đất còn lại. Nếu phần diện tích còn lại sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của UBND cấp tỉnh và thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi theo Điều 78 hoặc Điều 79 Luật Đất đai 2024 thì khoản 7 Điều 91 cho phép, khi người sử dụng đất đồng ý, UBND có thẩm quyền quyết định thu hồi phần đất còn lại và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, quản lý diện tích này.
Nếu phần đất còn lại vẫn đủ diện tích nhưng méo mó, khó xây dựng, bị ảnh hưởng lối đi hoặc nhà ở không thể tiếp tục sử dụng thì phải kiểm tra thêm quy định của địa phương, hồ sơ dự án và quy định về bồi thường tài sản, tái định cư. Không nên mặc nhiên cho rằng cứ “khó sử dụng” là Nhà nước bắt buộc phải thu hồi nốt.
Đặc biệt, khi nhận phương án bồi thường, hãy kiểm tra đồng thời: Diện tích nào bị thu hồi → loại đất gì → được bồi thường thế nào → nhà, công trình bị ảnh hưởng ra sao → phần đất còn lại bao nhiêu → có đủ điều kiện sử dụng hay không → có phải di chuyển chỗ ở không → có thuộc trường hợp được đề nghị thu hồi phần còn lại không. Đôi khi phần đất bị thu hồi chỉ chiếm 20% diện tích nhưng lại làm ảnh hưởng đến 80% giá trị sử dụng của cả thửa đất. Vì vậy, bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất không thể chỉ dừng ở việc kiểm tra “giá bồi thường một mét vuông là bao nhiêu”.
Căn cứ pháp lý
Luật Đất đai 2024, trọng tâm Điều 78, Điều 79 về các trường hợp thu hồi đất; Điều 91 về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Điều 95 và các quy định liên quan đến bồi thường về đất; Điều 102 về bồi thường thiệt hại đối với tài sản; Điều 111 về bố trí tái định cư; Điều 220 về tách thửa, hợp thửa.
Nghị định 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng về bồi thường đất, nhà, công trình và các chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất.
Ngoài ra, phải kiểm tra quyết định của UBND cấp tỉnh nơi có đất về diện tích tối thiểu, điều kiện tách thửa và các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư áp dụng tại địa phương.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
