Cho người quen vay tiền lấy lãi, cho vay theo ngày, cho vay “5.000 đồng/1 triệu/ngày”, cho vay tiền nhưng cắt lãi trước, thu thêm phí hồ sơ, phí dịch vụ… là những giao dịch rất phổ biến. Khi xảy ra tranh chấp, câu hỏi được quan tâm nhiều nhất thường là: lãi suất bao nhiêu thì được coi là cho vay nặng lãi? Cho vay 3.000 đồng/1 triệu/ngày có phạm tội không? Lãi suất vượt 20%/năm có bị khởi tố? Chưa thu được tiền lãi thì có phạm tội hay không?
Điểm dễ nhầm nhất là pháp luật dân sự và pháp luật hình sự đang sử dụng những ngưỡng khác nhau. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, về nguyên tắc, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Phần lãi suất vượt quá giới hạn này không có hiệu lực.
Nhưng vượt 20%/năm chưa đồng nghĩa phạm Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Điều 201 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP đặt ra ngưỡng cao hơn: mức lãi suất phải từ gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự trở lên, đồng thời phải xem xét số tiền thu lợi bất chính hoặc các điều kiện khác mà Điều 201 quy định.
Vì vậy, khi đánh giá một khoản vay có dấu hiệu hình sự hay không, không thể chỉ hỏi “lãi suất bao nhiêu?”. Phải tính đồng thời: mức lãi suất thực tế, số tiền gốc, thời gian vay, khoản tiền thực tế người vay phải trả và số tiền người cho vay đã hoặc nhằm thu lợi bất chính.
Lãi suất bao nhiêu được coi là cho vay lãi nặng?
Điểm xuất phát phải là Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định này, mức lãi suất tối đa thông thường trong giao dịch vay dân sự là 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Nếu hai bên thỏa thuận mức lãi cao hơn thì phần vượt quá giới hạn không có hiệu lực.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao xác định “cho vay lãi nặng” là trường hợp cho vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Với giới hạn dân sự hiện hành là 20%/năm, ngưỡng 05 lần tương ứng từ 100%/năm trở lên.
Có thể hình dung:
20%/năm là giới hạn lãi suất theo quy định dân sự trong trường hợp thông thường.
Trên 20%/năm nhưng dưới 100%/năm: phần vượt quá 20%/năm không có hiệu lực, nhưng chỉ riêng mức lãi này chưa đạt dấu hiệu “cho vay lãi nặng” theo Điều 201.
Từ 100%/năm trở lên: đã đạt dấu hiệu về mức lãi suất của hành vi cho vay lãi nặng, nhưng chưa thể chỉ dựa vào đó để kết luận người cho vay chắc chắn phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn phải xem xét điều kiện về thu lợi bất chính hoặc trường hợp đã từng bị xử lý mà Điều 201 quy định.
Đây chính là điểm cần phân biệt rõ nhất: “lãi suất trái quy định của pháp luật dân sự” và “đủ yếu tố cấu thành tội phạm” không phải một khái niệm.
Cho vay với lãi suất từ 100%/năm có đương nhiên bị khởi tố không?
Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định người nào trong giao dịch dân sự cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều luật còn quy định trường hợp người đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Như vậy, đối với trường hợp thông thường của người chưa từng bị xử lý về hành vi này, cần đặc biệt kiểm tra hai dấu hiệu: lãi suất cho vay có đạt từ 100%/năm trở lên hay không và khoản thu lợi bất chính có đạt ngưỡng luật định hay không. Nếu chỉ nhìn thấy giấy vay ghi “10%/tháng” rồi lập tức kết luận người cho vay phạm tội là chưa đủ.
Ví dụ, A cho B vay 100 triệu đồng với lãi suất 10%/tháng. Quy đổi đơn giản, mức lãi này tương ứng khoảng 120%/năm, tức đã vượt ngưỡng 100%/năm. Tuy nhiên, để xác định trách nhiệm hình sự còn phải tính khoản thu lợi bất chính theo Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP. Nếu khoản thu lợi bất chính chưa đạt 30 triệu đồng và A cũng không thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích rồi tiếp tục vi phạm thì chưa thể chỉ căn cứ mức lãi 120%/năm để kết luận A phạm tội theo khoản 1 Điều 201.
Ngược lại, nếu người cho vay thực hiện nhiều khoản vay với mức lãi thuộc trường hợp cho vay lãi nặng, việc xác định số tiền thu lợi bất chính không nhất thiết chỉ nhìn riêng một khoản vay. Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP có hướng dẫn riêng đối với trường hợp thực hiện hành vi nhiều lần và cách xử lý tổng số tiền thu lợi bất chính. Vì vậy, người cho vay nhỏ lẻ nhiều lần cũng không nên cho rằng “mỗi người tôi chỉ thu vài triệu nên không bao giờ bị xử lý hình sự”.
Thu lợi bất chính 30 triệu đồng được tính như thế nào?
Đây là yếu tố rất quan trọng khi áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP xác định “thu lợi bất chính” là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay. Nói cách khác, không phải toàn bộ số tiền lãi người cho vay nhận được đều được coi là thu lợi bất chính. Phải loại trừ phần tiền lãi tương ứng với mức lãi suất được pháp luật dân sự cho phép.
Ví dụ đơn giản, A cho B vay 200 triệu đồng trong 01 năm với mức lãi 120%/năm. Nếu giả định khoản vay được thực hiện đủ một năm và không có yếu tố khác, tổng lãi theo thỏa thuận là 240 triệu đồng. Phần lãi tương ứng mức 20%/năm là 40 triệu đồng. Phần vượt quá giới hạn dân sự là 200 triệu đồng. Đây mới là phần cần được xem xét khi tính khoản thu lợi bất chính theo hướng dẫn của Nghị quyết, chứ không phải mặc nhiên lấy toàn bộ 240 triệu đồng.
Trong thực tế, cách tính có thể phức tạp hơn rất nhiều. Người cho vay có thể thu lãi hàng ngày, cắt lãi ngay khi giao tiền, thu phí hồ sơ, phí dịch vụ, phí tư vấn hoặc yêu cầu người vay chuyển tiền cho người khác. Vì Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP còn tính cả các khoản thu trái pháp luật khác của người vay vào thu lợi bất chính, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét bản chất thực tế của các khoản tiền chứ không chỉ tên gọi do hai bên đặt ra.
Do đó, đổi tên “tiền lãi” thành “phí dịch vụ” không làm thay đổi bản chất nếu chứng cứ thể hiện khoản tiền đó thực chất là khoản người vay buộc phải trả để được vay tiền.
Cho vay 3.000 đồng, 5.000 đồng hay 10.000 đồng/1 triệu/ngày có phạm tội không?
Đây là cách tính lãi rất phổ biến trong các giao dịch vay ngoài xã hội. Nếu cho vay 1 triệu đồng và thu 3.000 đồng/ngày thì lãi suất là 0,3%/ngày. Tính theo 365 ngày, mức này tương đương khoảng 109,5%/năm. Như vậy, xét riêng về mức lãi suất, 3.000 đồng/1 triệu/ngày đã cao hơn ngưỡng 100%/năm.
Nếu thu 5.000 đồng/1 triệu/ngày thì tương đương 0,5%/ngày, khoảng 182,5%/năm. Nếu thu 10.000 đồng/1 triệu/ngày thì tương đương 1%/ngày, khoảng 365%/năm. Đây đều là các mức vượt đáng kể ngưỡng lãi suất được Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP xác định là cho vay lãi nặng. Một bản án được công bố của Tòa án cũng thể hiện cách quy đổi 20%/năm tương ứng khoảng 0,056%/ngày và ngưỡng gấp 05 lần khoảng 0,28%/ngày.
Tuy nhiên, một lần nữa cần nhấn mạnh: mức lãi suất vượt ngưỡng mới giải quyết một phần của bài toán. Muốn xác định có phạm Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hay không còn phải tính số tiền thu lợi bất chính và các điều kiện khác theo Điều 201. Vì vậy, câu hỏi chính xác không phải chỉ là “3.000 đồng/triệu/ngày có phạm tội không?” mà phải là: Cho vay bao nhiêu tiền → trong bao lâu → thực tế tính lãi thế nào → đã thu hoặc nhằm thu bao nhiêu → phần vượt quá 20%/năm là bao nhiêu → người cho vay trước đó đã từng bị xử lý về hành vi này hay chưa?
Cắt lãi trước khi giao tiền có tránh được tội cho vay lãi nặng không?
Không thể chỉ dựa vào hình thức giao tiền để tránh việc xác định lãi suất thực tế. Ví dụ, trên giấy vay ghi A cho B vay 100 triệu đồng nhưng A chỉ giao cho B 90 triệu đồng, giữ lại 10 triệu đồng với lý do “cắt lãi tháng đầu”. Sau đó B vẫn phải có nghĩa vụ trả 100 triệu đồng tiền gốc và tiếp tục trả các khoản lãi theo thỏa thuận. Khi đánh giá bản chất giao dịch, không thể đơn thuần nhìn vào dòng chữ “vay 100 triệu đồng” mà bỏ qua số tiền người vay thực tế nhận và những khoản họ thực tế phải thanh toán.
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng đến việc xác định thực chất khoản thu lợi bất chính từ hoạt động cho vay. Vì vậy, các hình thức như cắt lãi trước, thu tiền theo ngày, yêu cầu đóng “phí vay”, “phí quản lý”, “phí hồ sơ” hoặc những khoản có tên gọi khác vẫn có thể được xem xét nếu bản chất là khoản thu trái pháp luật phát sinh từ việc cho vay.
Đây cũng là lý do khi giải quyết vụ án, các chứng cứ như sao kê ngân hàng, tin nhắn, sổ ghi nợ, dữ liệu điện thoại, giấy vay tiền và lời khai của người vay có ý nghĩa rất lớn. Số tiền ghi trên giấy chưa chắc phản ánh toàn bộ dòng tiền thực tế giữa hai bên.
Chưa thu được đủ 30 triệu đồng tiền lãi thì chắc chắn không phạm tội?
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn cả trường hợp người cho vay đã thu lợi bất chính và trường hợp nhằm thu lợi bất chính nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn chưa thu được khoản tiền đó. Tùy diễn biến cụ thể, trường hợp nhằm thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên nhưng chưa thu được có thể được xem xét theo quy định về phạm tội chưa đạt. Vì vậy, việc người vay chưa trả hết lãi không đồng nghĩa đương nhiên loại trừ mọi trách nhiệm hình sự.
Ví dụ, người cho vay thực hiện một khoản vay với lãi suất đặc biệt cao, theo thỏa thuận số tiền thu lợi bất chính dự kiến vượt xa 30 triệu đồng nhưng mới thu được một phần thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định nguyên nhân chưa thu được, ý chí của người cho vay và áp dụng hướng dẫn của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP. Không thể máy móc lấy số tiền thực nhận tại thời điểm bị phát hiện rồi kết luận ngay.
Ngược lại, nếu khoản vay có mức lãi suất dưới ngưỡng 05 lần mức tối đa của Bộ luật Dân sự thì việc người cho vay thu được số tiền lãi lớn do khoản vay có giá trị rất cao cũng không tự động cấu thành Tội cho vay lãi nặng theo Điều 201. Dấu hiệu về mức lãi suất vẫn phải được thỏa mãn.
Cho nhiều người vay, mỗi người thu lợi dưới 30 triệu đồng thì tính thế nào?
Đây là tình huống thường gặp đối với người cho vay thường xuyên. Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP có hướng dẫn trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng. Nếu tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần đạt ngưỡng luật định và đáp ứng các điều kiện hướng dẫn, người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng. Vì vậy, không thể chỉ chia nhỏ hoạt động cho vay thành từng người vay hoặc từng hợp đồng rồi cho rằng mỗi hợp đồng chưa đến 30 triệu đồng là an toàn.
Ví dụ, A cho 10 người vay với mức lãi đều vượt ngưỡng 05 lần mức tối đa theo Bộ luật Dân sự. Nếu mỗi khoản tạo ra 5 triệu đồng thu lợi bất chính thì khi đánh giá trách nhiệm hình sự phải xem xét tổng thể hoạt động cho vay theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán, chứ không đơn giản tách thành 10 giao dịch hoàn toàn độc lập để kết luận không giao dịch nào đạt 30 triệu đồng.
Ngược lại, không phải cứ có nhiều người vay là mặc nhiên cộng tất cả khoản lãi. Chỉ những giao dịch thuộc phạm vi hành vi cho vay lãi nặng và các khoản thu được xác định theo đúng hướng dẫn pháp luật mới được sử dụng để xác định trách nhiệm. Vì vậy, trong vụ án có nhiều người vay, việc lập bảng chi tiết từng khoản vay, tiền gốc, ngày giao tiền, lãi suất, số tiền đã trả và khoản thu lợi bất chính là đặc biệt quan trọng.
Phạm tội cho vay lãi nặng có bị đi tù không?
Điều 201 Bộ luật Hình sự chia trách nhiệm hình sự thành các mức khác nhau. Theo khoản 1 Điều 201, trường hợp thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Trường hợp thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên thuộc khoản 2 Điều 201, hình phạt được quy định nghiêm khắc hơn. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo Điều 201.
Như vậy, cách nói “cho vay nặng lãi chắc chắn đi tù” cũng không chính xác. Việc quyết định hình phạt phải căn cứ khoản truy tố, tính chất và mức độ hành vi, số tiền thu lợi bất chính, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và những yếu tố khác theo Bộ luật Hình sự. Điều 201 có những khung cho phép áp dụng hình phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ chứ không phải mọi trường hợp đều quy định hình phạt tù.
Tiền gốc và tiền lãi trong vụ án cho vay lãi nặng được xử lý thế nào?
Một vấn đề nhiều người quan tâm là nếu người cho vay bị khởi tố thì có mất luôn tiền gốc hay không. Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP có hướng dẫn về việc xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm. Việc xử lý tiền gốc, khoản lãi tương ứng với mức lãi suất hợp pháp và phần thu lợi bất chính phải được phân biệt theo nguồn tiền, tình trạng thực tế và quy định áp dụng trong từng trường hợp. Thực tiễn xét xử cho thấy khoản tiền dùng để cho vay có thể được xác định là phương tiện phạm tội để xử lý theo pháp luật; phần lãi trong giới hạn pháp luật và phần lãi vượt quá giới hạn cũng được xem xét theo cơ chế khác nhau.
Đặc biệt, phần tiền người cho vay đã thu vượt quá mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự là khoản cần được xem xét hoàn trả cho người vay theo hướng dẫn pháp luật. Vì vậy, người vay trong vụ án không chỉ là nguồn cung cấp chứng cứ về hành vi cho vay mà còn có quyền lợi liên quan trực tiếp đến việc xử lý những khoản tiền đã nộp.
Do đó, trong vụ án cho vay lãi nặng, không nên chỉ tính “người cho vay đã lời bao nhiêu”. Phải bóc tách từng dòng tiền: tiền gốc dùng cho vay, tiền lãi trong giới hạn 20%/năm, tiền lãi vượt giới hạn và các khoản phí trái pháp luật khác.
Người vay đã tự nguyện đồng ý mức lãi rất cao thì người cho vay có còn phạm tội không?
Việc hai bên tự nguyện ký giấy vay không làm vô hiệu các giới hạn bắt buộc của pháp luật. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho phép các bên thỏa thuận lãi suất nhưng đồng thời đặt giới hạn tối đa 20%/năm trong giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này. Phần vượt quá giới hạn không có hiệu lực.
Ở góc độ hình sự, Điều 201 cũng không đặt điều kiện rằng người vay phải bị ép buộc mới cấu thành tội phạm. Nếu hai bên tự nguyện thỏa thuận mức lãi từ ngưỡng cho vay lãi nặng và người cho vay đáp ứng những dấu hiệu còn lại của cấu thành tội phạm thì việc người vay từng nói “tôi đồng ý trả lãi” không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự.
Điều này cần phân biệt với những hành vi khác trong quá trình thu hồi nợ. Một người có khoản nợ hợp pháp không có nghĩa họ được quyền đe dọa, đánh người, giữ người, cưỡng ép giao tài sản hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật để đòi nợ. Nếu có các hành vi khác thì tùy tính chất, hậu quả, cơ quan tiến hành tố tụng có thể tiếp tục xem xét trách nhiệm pháp lý tương ứng.
Khi nào chỉ là tranh chấp dân sự, khi nào có dấu hiệu hình sự?
Có thể ghi nhớ bằng hai ngưỡng cơ bản.
Thứ nhất, lãi suất trên 20%/năm nhưng chưa đạt từ 100%/năm: về nguyên tắc phần vượt quá giới hạn tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không có hiệu lực, nhưng chưa đạt dấu hiệu mức lãi suất của Tội cho vay lãi nặng theo Điều 201. Đây là điểm rất quan trọng khi phân biệt hậu quả dân sự với trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, lãi suất từ 100%/năm trở lên: đã đạt ngưỡng “gấp 05 lần trở lên” nhưng vẫn phải tiếp tục xác định khoản thu lợi bất chính. Đối với trường hợp thông thường, nếu khoản thu lợi bất chính đạt từ 30 triệu đồng trở lên thì đã xuất hiện điều kiện quan trọng để xem xét Điều 201. Nếu chưa đạt 30 triệu đồng thì phải tiếp tục kiểm tra người cho vay có thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hay không.
Vì vậy, không nên sử dụng công thức “trên 20% là hình sự”. Công thức kiểm tra chính xác hơn là: Lãi suất thực tế → có từ 100%/năm trở lên không → thu lợi bất chính bao nhiêu → đã từng bị xử lý về hành vi này chưa → có thực hiện nhiều lần không → thực tế đã thu tiền hay mới nhằm thu → có khoản phí trái pháp luật nào khác không.
Khi bị tố cáo cho vay lãi nặng hoặc đang vay với lãi suất quá cao cần làm gì?
Đối với người vay, cần bảo quản toàn bộ chứng cứ chứng minh số tiền thực tế nhận và số tiền đã thanh toán: giấy vay, tin nhắn, sao kê ngân hàng, ghi âm hợp pháp, lịch sử chuyển khoản, bảng tính lãi và các chứng từ khác. Nếu mỗi ngày phải chuyển tiền vào nhiều tài khoản khác nhau thì cần lập bảng theo thời gian để xác định tổng số tiền đã trả.
Đối với người bị tố cáo cho vay lãi nặng, cũng cần rà soát chính xác từng giao dịch thay vì chỉ dựa vào lời khai rằng “tôi cho vay giúp bạn bè”. Phải xác định số tiền thực tế giao, thời gian vay, mức lãi thỏa thuận, tiền đã nhận và phần nào là tiền gốc, phần nào là tiền lãi. Nếu có nhiều người vay thì cần tách riêng từng giao dịch trước khi tổng hợp theo hướng dẫn của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.
Trong cả hai trường hợp, cách tính lãi là vấn đề trung tâm. Chỉ một sai sót khi quy đổi lãi theo ngày sang lãi suất năm hoặc khi xác định “thu lợi bất chính” cũng có thể làm thay đổi đáng kể việc đánh giá vụ việc.
Lãi bao nhiêu thì phạm tội cho vay lãi nặng?
Có thể ghi nhớ ngắn gọn bằng ba con số: 20% – 100% – 30 triệu đồng.
20%/năm là mức lãi suất tối đa theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 đối với giao dịch thuộc phạm vi quy định này, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Phần lãi vượt quá mức giới hạn không có hiệu lực.
100%/năm là mức tương ứng gấp 05 lần giới hạn 20%/năm. Từ mức này trở lên, giao dịch đã đạt dấu hiệu về lãi suất của “cho vay lãi nặng” theo Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.
30 triệu đồng là ngưỡng thu lợi bất chính bắt đầu được Điều 201 Bộ luật Hình sự sử dụng để xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp thông thường. Tuy nhiên, ngay cả khi chưa đạt 30 triệu đồng, vẫn phải kiểm tra trường hợp người cho vay đã từng bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Vì vậy:
Cho vay 30%/năm → vượt giới hạn dân sự nhưng chưa đạt ngưỡng lãi suất của Điều 201.
Cho vay 80%/năm → vẫn chưa đạt mức gấp 05 lần giới hạn 20%/năm.
Cho vay 120%/năm → đã đạt dấu hiệu về mức lãi suất, nhưng phải tính tiếp khoản thu lợi bất chính.
Cho vay 200%/năm và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên → có căn cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự theo Điều 201 nếu đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Do đó, khi gặp một vụ việc cụ thể, đừng chỉ hỏi “mỗi tháng lấy bao nhiêu phần trăm?”. Hãy lấy toàn bộ số liệu và tính theo chuỗi: Tiền thực tế giao → lãi thực tế phải trả → thời gian vay → quy đổi lãi suất → phần lãi hợp pháp → phần vượt quá → các khoản phí khác → tổng thu lợi bất chính. Đó mới là cách đánh giá chính xác một giao dịch có dừng ở tranh chấp dân sự hay đã có dấu hiệu của Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Dân sự 2015, trọng tâm Điều 468 về lãi suất.
Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, trọng tâm Điều 201 về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; văn bản hiện được Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật ghi nhận còn hiệu lực.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
