Trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự, không ít đương sự rơi vào tình trạng Tòa án mời hòa giải nhiều lần nhưng các bên vẫn không thống nhất được phương án giải quyết. Có vụ hòa giải lần thứ nhất không thành, sau đó Tòa tiếp tục mời lần thứ hai, thứ ba, thậm chí lần thứ tư. Khi đó, nhiều người thắc mắc: “Tòa án đã hòa giải 4 lần không thành thì có phải đưa vụ án ra xét xử ngay không?”, “Pháp luật quy định tối đa được hòa giải bao nhiêu lần?” hay “Một bên nhất quyết không đồng ý hòa giải thì Tòa có được tiếp tục kéo dài vụ án hay không?”.
Câu trả lời cần hiểu chính xác là: pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định cứ hòa giải không thành đủ 4 lần thì Tòa án bắt buộc phải mở phiên tòa ngay, đồng thời cũng không quy định một vụ án chỉ được hòa giải tối đa 4 lần. Số lần hòa giải không phải căn cứ quyết định thời điểm xét xử. Điều quan trọng là vụ án đã được thu thập chứng cứ đầy đủ hay chưa, còn phải thực hiện hoạt động tố tụng nào khác không, có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hay không và thời hạn chuẩn bị xét xử còn hay đã hết.
Theo Văn bản hợp nhất Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành năm 2026, Điều 205 vẫn xác định trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những trường hợp không được hòa giải, không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Điều 208 quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đặt ra một con số tối đa về số lần tổ chức.
Vì vậy, “đã hòa giải 4 lần” và “đã đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử” là hai vấn đề cần được tách biệt.
Pháp luật có quy định Tòa án chỉ được hòa giải tối đa 4 lần không?
Không. Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành không có quy định nào xác định Tòa án chỉ được tổ chức hòa giải 01 lần, 02 lần, 03 lần hay tối đa 04 lần. Điều 205 quy định nguyên tắc chung là trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên tự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án. Điều 208 tiếp tục quy định Thẩm phán mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ về thời gian, địa điểm và nội dung phiên họp.
Như vậy, nếu lần hòa giải đầu tiên không thành nhưng sau đó xuất hiện tài liệu mới, một bên thay đổi phương án, các bên có dấu hiệu có thể thỏa thuận hoặc Thẩm phán xét thấy cần tiếp tục tạo điều kiện cho các bên giải quyết tranh chấp bằng thỏa thuận thì việc tiếp tục hòa giải có thể được thực hiện trong quá trình chuẩn bị xét xử. Ngược lại, cũng không có quy định bắt buộc Tòa phải hòa giải đủ 4 lần mới được đưa vụ án ra xét xử. Có những vụ án chỉ sau một lần hòa giải không thành, khi hồ sơ đã đầy đủ và không còn vấn đề cần xử lý thì Thẩm phán có thể thực hiện các bước tố tụng tiếp theo để đưa vụ án ra xét xử.
Vì vậy, nếu được Tòa án mời hòa giải lần thứ tư, đương sự không nên cho rằng “Tòa làm sai vì luật chỉ cho hòa giải ba lần”. Nhưng nếu vụ án bị kéo dài và liên tục tổ chức hòa giải trong khi quan điểm của các bên đã rõ ràng, cần kiểm tra một vấn đề khác quan trọng hơn: thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 còn hay không và lý do nào khiến vụ án chưa được đưa ra xét xử.
Hòa giải 4 lần không thành thì Tòa án có xét xử luôn không?
Không đương nhiên “xét xử luôn” ngay sau lần hòa giải thứ tư. Khi hòa giải không thành, nếu hồ sơ đã đầy đủ, không có căn cứ công nhận thỏa thuận, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và vụ án đã sẵn sàng để xét xử thì Thẩm phán sẽ thực hiện thủ tục đưa vụ án ra xét xử. Khoản 3 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án; hoặc đưa vụ án ra xét xử.
Do đó, hòa giải không thành mới chỉ cho thấy các bên chưa tự giải quyết được tranh chấp. Sau đó Thẩm phán còn phải xem xét hồ sơ đã đủ điều kiện để đưa ra xét xử hay chưa. Ví dụ, trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, mặc dù đã hòa giải 4 lần nhưng Tòa án vẫn đang chờ kết quả đo đạc, định giá tài sản, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận từ cơ quan quản lý đất đai hoặc cần đưa thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng thì chưa thể chỉ vì “đã hòa giải 4 lần” mà lập tức mở phiên tòa. Tương tự, nếu xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ thì vụ án phải được xử lý theo quy định về tạm đình chỉ.
Ngược lại, nếu chứng cứ đã được giao nộp, công khai đầy đủ, các bên giữ nguyên quan điểm, hòa giải không thành và không còn hoạt động tố tụng cần thiết nào phải thực hiện thì vụ án về nguyên tắc phải chuyển sang bước đưa ra xét xử trong giới hạn thời hạn luật định. Tòa án không thể lấy lý do “tiếp tục hòa giải” để mặc nhiên kéo dài vụ án không giới hạn.
Điều quan trọng không phải số lần hòa giải mà là thời hạn chuẩn bị xét xử
Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Nếu một vụ án đã hòa giải 4 lần nhưng người dân muốn biết Tòa án có đang giải quyết chậm hay không thì không nên chỉ đếm số lần hòa giải. Phải lấy ngày Tòa án thụ lý vụ án và đối chiếu với Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định hiện hành, đối với các vụ án dân sự và hôn nhân gia đình thuộc Điều 26, Điều 28, thời hạn chuẩn bị xét xử thông thường là 04 tháng kể từ ngày thụ lý; đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động thuộc Điều 30, Điều 32 thì thời hạn là 02 tháng. Nếu vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, Chánh án có thể quyết định gia hạn nhưng thời gian gia hạn cũng bị giới hạn theo luật.
Ví dụ, một vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được Tòa án thụ lý ngày 01/3/2026. Tòa lần lượt tổ chức hòa giải vào tháng 4, tháng 5, tháng 6 và tháng 7 nhưng đều không thành. Việc đã hòa giải 4 lần không tự tạo ra một thời hạn mới cho Tòa án. Thẩm phán vẫn phải giải quyết vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203, trừ trường hợp có quyết định gia hạn hoặc phát sinh căn cứ làm thay đổi quá trình giải quyết như tạm đình chỉ. Đây chính là điểm nhiều người bỏ qua: mỗi lần hòa giải không làm “reset” lại thời hạn chuẩn bị xét xử.
Do đó, nếu đã hòa giải nhiều lần nhưng vụ án vẫn chưa được đưa ra xét xử, nên kiểm tra ít nhất ba mốc: ngày thụ lý vụ án, có quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử hay không và có quyết định tạm đình chỉ nào đã được ban hành hay không. Ba thông tin này có giá trị hơn rất nhiều so với câu hỏi “đã hòa giải mấy lần?”.
Hòa giải không thành thì bước tiếp theo Tòa án làm gì?
Khi các bên không thỏa thuận được, Thẩm phán phải tiếp tục hoàn thiện các công việc thuộc giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu hồ sơ chưa đầy đủ. Tùy tính chất vụ án, Tòa án có thể tiếp tục thu thập chứng cứ theo quy định, xác minh, lấy lời khai, yêu cầu cung cấp tài liệu, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc thực hiện những hoạt động tố tụng cần thiết khác. Trong tranh chấp đất đai, việc chờ kết quả đo đạc, hồ sơ địa chính hoặc định giá thường là nguyên nhân khiến vụ án chưa thể đưa ra xét xử ngay sau phiên hòa giải.
Khi hồ sơ đã đủ điều kiện và không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Điều 220 quy định quyết định này phải thể hiện các nội dung như vụ án được đưa ra xét xử, thông tin các đương sự, thành phần Hội đồng xét xử, thời gian và địa điểm mở phiên tòa, người được triệu tập và những nội dung luật định khác.
Đặc biệt, khoản 4 Điều 203 quy định sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong thời hạn 01 tháng Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Như vậy, cần phân biệt hai mốc: “hòa giải không thành → ra quyết định đưa vụ án ra xét xử” và “có quyết định đưa vụ án ra xét xử → mở phiên tòa”. Không phải vừa ký biên bản hòa giải không thành buổi sáng thì buổi chiều Tòa án phải mở phiên tòa.
Nếu một bên tuyên bố chắc chắn không hòa giải thì Tòa có phải tiếp tục hòa giải nhiều lần không?
Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định hòa giải phải dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự; không được dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bắt buộc đương sự phải thỏa thuận trái với ý chí của mình. Đáng chú ý hơn, Điều 207 quy định một trong các trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được là “một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”. Văn bản hợp nhất năm 2026 vẫn thể hiện nội dung này.
Do đó, nếu một bên đã xác định rõ không có khả năng thỏa thuận và có đề nghị không tiến hành hòa giải thì cần xem xét Điều 207, chứ không thể hiểu hòa giải là một thủ tục bắt buộc phải lặp lại cho đủ một số lần nhất định. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện đòi 1 tỷ đồng, bị đơn chỉ thừa nhận 200 triệu đồng và sau nhiều lần làm việc hai bên đều xác định không thể thống nhất. Nếu một đương sự đề nghị không tiếp tục hòa giải thì pháp luật đã có cơ chế để xử lý trường hợp này.
Tuy nhiên, cần phân biệt “không tiến hành hòa giải” với “không cần thực hiện các hoạt động chuẩn bị xét xử khác”. Việc không tiếp tục hòa giải không đồng nghĩa hồ sơ ngay lập tức đủ điều kiện mở phiên tòa. Tòa án vẫn phải bảo đảm việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và những thủ tục cần thiết khác trước khi đưa vụ án ra xét xử.
Một bên liên tục vắng mặt tại các buổi hòa giải thì vụ án có bị kéo dài mãi không?
Không. Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Ngoài ra, trường hợp đương sự không thể tham gia hòa giải vì có lý do chính đáng cũng thuộc nhóm mà pháp luật dự liệu. Vì vậy, một bên không thể đơn giản sử dụng việc không đến hòa giải để khiến vụ án vĩnh viễn không được xét xử.
Cần phân biệt việc vắng mặt ở phiên hòa giải với việc vắng mặt tại phiên tòa. Khi vụ án đã được đưa ra xét xử, Điều 227 có quy định riêng về sự có mặt của đương sự. Ở lần triệu tập hợp lệ thứ nhất, nếu có đương sự thuộc trường hợp luật quy định vắng mặt thì Hội đồng xét xử về nguyên tắc phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp được xét xử vắng mặt theo luật. Khi triệu tập hợp lệ lần thứ hai, hậu quả sẽ khác nhau tùy người vắng mặt là nguyên đơn, bị đơn, người có yêu cầu phản tố hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Chẳng hạn, bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Như vậy, chiến thuật “không đến hòa giải để Tòa không xử được” không phải là giải pháp có thể kéo dài vụ án vô thời hạn.
Nếu lần hòa giải thứ tư các bên bất ngờ thỏa thuận được thì có cần xét xử nữa không?
Nếu hòa giải thành thì hướng xử lý hoàn toàn khác. Theo Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, sau khi hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến, Thẩm phán phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Quyết định này sau đó được gửi cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn luật quy định.
Điều đó cho thấy việc hòa giải nhiều lần không phải lúc nào cũng vô nghĩa. Có những tranh chấp đất đai, thừa kế hoặc hợp đồng mà lần đầu các bên hoàn toàn đối lập nhưng sau khi có kết quả đo đạc, định giá hoặc được tiếp cận thêm chứng cứ, quan điểm thay đổi và đến lần hòa giải sau mới đạt được thỏa thuận. Chính vì vậy, pháp luật không ấn định cứng “hòa giải tối đa 2 lần” hay “4 lần”.
Nhưng hòa giải phải hướng đến khả năng thực sự giải quyết tranh chấp và vẫn phải đặt trong khuôn khổ thời hạn tố tụng. Việc tạo điều kiện để các bên thỏa thuận không đồng nghĩa được phép kéo dài vụ án không có giới hạn.
Đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án còn hòa giải nữa không?
Cần phân biệt hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử với việc các bên tự thỏa thuận sau khi vụ án đã được đưa ra xét xử. Điều 205 xác định hoạt động hòa giải của Tòa án được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Khi giai đoạn đó kết thúc bằng quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án đã chuyển sang bước chuẩn bị mở phiên tòa.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa các bên mất quyền tự thỏa thuận. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự. Ngay cả khi vụ án đã được đưa ra xét xử, các bên vẫn có thể thống nhất phương án giải quyết tranh chấp; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng hỏi các đương sự về việc có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không và xử lý theo quy định nếu thỏa thuận đáp ứng điều kiện pháp luật.
Vì vậy, “đã hòa giải không thành” chỉ phản ánh kết quả tại thời điểm phiên hòa giải đó. Nó không cấm các bên thay đổi quan điểm và thỏa thuận vào thời điểm sau.
Hòa giải 4 lần không thành nhưng Tòa vẫn chưa xét xử, đương sự nên làm gì?
Việc đầu tiên không nên là lập tức khiếu nại rằng “Tòa đã hòa giải quá số lần”. Lập luận đó không chính xác vì pháp luật không quy định tối đa 4 lần hòa giải. Thay vào đó, đương sự nên kiểm tra Thông báo thụ lý để xác định chính xác ngày Tòa án thụ lý vụ án; kiểm tra loại tranh chấp để xác định thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203; sau đó xem Tòa có quyết định gia hạn, tạm đình chỉ hoặc quyết định tố tụng nào làm ảnh hưởng đến tiến trình vụ án hay không.
Nếu hồ sơ đã đầy đủ, các bên đã nhiều lần hòa giải không thành, không còn hoạt động tố tụng cần thiết và thời hạn chuẩn bị xét xử đang tiến đến giới hạn luật định thì đương sự có thể làm đơn đề nghị Tòa án sớm giải quyết vụ án theo quy định. Nội dung đơn nên tập trung vào ngày thụ lý, quá trình giải quyết, những lần phiên họp đã được tổ chức, tình trạng chứng cứ và đề nghị thực hiện bước tố tụng tiếp theo, thay vì yêu cầu “hòa giải đủ 4 lần rồi phải xử ngay”.
Nếu có dấu hiệu quá thời hạn tố tụng, cần tiếp tục kiểm tra nguyên nhân và quyết định liên quan trước khi lựa chọn quyền khiếu nại hoặc kiến nghị phù hợp. Một vụ án kéo dài 08 tháng chưa chắc đương nhiên vi phạm nếu từng có quyết định tạm đình chỉ hợp pháp; ngược lại, việc Thẩm phán liên tục mời hòa giải không tự tạo thêm thời gian ngoài giới hạn của Điều 203.
Ví dụ thực tế: hòa giải 4 lần không thành thì khi nào được đưa ra xét xử?
Giả sử Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vào ngày 01/3/2026. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa tổ chức phiên họp và hòa giải lần thứ nhất vào tháng 4, lần thứ hai vào tháng 5, lần thứ ba vào tháng 6 và lần thứ tư vào tháng 7. Cả bốn lần nguyên đơn vẫn yêu cầu bị đơn thanh toán 800 triệu đồng, còn bị đơn chỉ chấp nhận 300 triệu đồng nên hòa giải không thành.
Nếu chứng cứ đã đầy đủ, không có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ và không còn công việc tố tụng nào cần thiết, Thẩm phán phải xử lý vụ án trong khuôn khổ thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203. Hướng xử lý phù hợp lúc này là ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, chứ pháp luật không bắt buộc phải tổ chức thêm lần hòa giải thứ năm chỉ vì các bên chưa thống nhất. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, khoản 4 Điều 203 quy định trong thời hạn 01 tháng Tòa án phải mở phiên tòa; nếu có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Ngược lại, giả sử sau lần hòa giải thứ tư Tòa án phát hiện cần giám định chữ ký trên giấy vay vì bị đơn phủ nhận chữ ký của mình. Khi đó, việc chưa mở phiên tòa ngay có thể có căn cứ vì kết quả giám định có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án. Vì thế, không thể chỉ nhìn vào con số “4 lần hòa giải” để đánh giá Tòa án giải quyết đúng hay chậm.
Đương sự có thể làm đơn đề nghị không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử không?
Có thể đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải. Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định trường hợp một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải là một trong những trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, nếu các bên đã trải qua nhiều lần hòa giải nhưng quan điểm hoàn toàn không thay đổi, đương sự có thể thể hiện rõ ý chí không tiếp tục hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Tuy nhiên, trong đơn không nên viết theo hướng “Tòa đã hòa giải 4 lần nên theo luật bắt buộc phải xét xử”, bởi pháp luật không có quy định như vậy. Cách trình bày chặt chẽ hơn có thể là: vụ án đã được thụ lý từ ngày nào; Tòa án đã tổ chức những phiên họp nào; các bên không đạt được thỏa thuận; người làm đơn xác định không có khả năng tiếp tục hòa giải và đề nghị không tiến hành hòa giải theo khoản 4 Điều 207; đồng thời đề nghị Tòa án tiếp tục thực hiện các thủ tục cần thiết để giải quyết vụ án trong thời hạn quy định tại Điều 203.
Cách đề nghị này vừa đúng căn cứ pháp luật, vừa tập trung vào vấn đề thực sự cần giải quyết là tiến độ vụ án thay vì tranh luận về một “giới hạn 4 lần” không tồn tại trong Bộ luật.
Luật sư có thể hỗ trợ gì khi vụ án hòa giải nhiều lần nhưng chưa được xét xử?
Đối với một vụ án kéo dài, công việc đầu tiên của luật sư không phải đếm xem đã hòa giải bao nhiêu lần mà phải lập lại toàn bộ tiến trình tố tụng: ngày nộp đơn, ngày thụ lý, ngày Tòa yêu cầu bổ sung chứng cứ, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, hoạt động thẩm định – định giá – giám định nếu có, quyết định gia hạn, quyết định tạm đình chỉ và ngày phục hồi. Từ dòng thời gian này mới xác định được vụ án hiện đang ở giai đoạn nào và thời hạn tố tụng đã được tuân thủ hay chưa.
Luật Công Tâm có thể hỗ trợ khách hàng nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra thời hạn chuẩn bị xét xử, xác định vụ án còn thiếu chứng cứ gì, soạn đơn đề nghị không tiếp tục hòa giải trong trường hợp phù hợp, đơn đề nghị sớm đưa vụ án ra xét xử, cũng như thực hiện quyền khiếu nại khi có căn cứ xác định quyết định hoặc hành vi tố tụng không đúng quy định. Đối với tranh chấp đất đai, thừa kế, hợp đồng hoặc hôn nhân gia đình có nhiều người tham gia, việc kiểm tra hồ sơ trước khi yêu cầu xét xử đặc biệt quan trọng bởi có những trường hợp Tòa chưa thể đưa vụ án ra xét xử vì vẫn còn thiếu người tham gia tố tụng hoặc chứng cứ quan trọng.
Hòa giải 4 lần không thành không đồng nghĩa Tòa phải mở phiên tòa ngay
Có ba điều quan trọng cần nhớ.
Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành không quy định số lần hòa giải tối đa là 4 lần. Điều 205 và Điều 208 quy định về hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng không đặt ra giới hạn “chỉ được hòa giải 4 lần”.
Thứ hai, sau khi hòa giải không thành, Tòa án không nhất thiết mở phiên tòa ngay lập tức. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, Tòa vẫn có thể phải thực hiện những hoạt động tố tụng cần thiết. Nhưng nếu vụ án đã đủ điều kiện, không có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thì Thẩm phán phải xử lý vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử và có thể ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo Điều 203.
Thứ ba, nếu một bên không muốn tiếp tục hòa giải, khoản 4 Điều 207 đã quy định trường hợp một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, khi đã hòa giải nhiều lần nhưng không có khả năng đạt được thỏa thuận, đương sự có thể thể hiện rõ quan điểm và đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo trình tự luật định.
Nói ngắn gọn:
Hòa giải 4 lần không thành ≠ tự động xét xử ngay.
Hòa giải 4 lần không thành ≠ phải hòa giải lần thứ 5.
Hòa giải 4 lần không thành ≠ Tòa được kéo dài vụ án tùy ý.
Điều cần kiểm tra là: ngày thụ lý vụ án → thời hạn chuẩn bị xét xử → tình trạng chứng cứ → có gia hạn hay không → có tạm đình chỉ hay không → vụ án đã đủ điều kiện ra quyết định đưa ra xét xử hay chưa.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH năm 2026, trọng tâm là Điều 203 về thời hạn chuẩn bị xét xử; Điều 205 về nguyên tắc hòa giải; Điều 206 về những vụ án không được hòa giải; Điều 207 về những vụ án không tiến hành hòa giải được; Điều 208 về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Điều 212 về công nhận sự thỏa thuận; Điều 220 về quyết định đưa vụ án ra xét xử và Điều 227 về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
