Chỉ một lá đơn tố giác gửi đến cơ quan Công an cũng có thể khiến người bị tố giác rơi vào trạng thái lo lắng: liệu mình có bị bắt ngay không, có bị khởi tố không, có bị khám xét nhà hoặc thu giữ điện thoại, máy tính, tài sản không? Nhiều người thậm chí cho rằng khi Công an đã gọi lên làm việc vì có đơn tố giác thì bản thân đã bị xem là “người phạm tội” và chỉ còn chờ ngày bị khởi tố.
Cách hiểu này không đúng với pháp luật tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự phân biệt rõ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố với người bị giữ, người bị bắt, bị can và bị cáo. Đặc biệt, Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định riêng tư cách, quyền và nghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Người bị tố giác có quyền được biết hành vi mình bị tố giác, trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, yêu cầu kiểm tra đánh giá chứng cứ, tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, được thông báo kết quả giải quyết và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng.
Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã được sửa đổi đáng kể bởi Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Văn bản hợp nhất hiện hành vẫn quy định cơ chế kiểm tra, xác minh nguồn tin trước khi quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Vì vậy, khi bị tố giác, điều quan trọng không phải là hoảng loạn mà phải xác định chính xác mình đang ở giai đoạn nào, cơ quan có thẩm quyền đang xác minh vấn đề gì và mình được pháp luật trao những quyền gì để bảo vệ bản thân.
Bị tố giác tội phạm không đồng nghĩa với việc đã phạm tội
Đây là nguyên tắc đầu tiên cần hiểu. Một người gửi đơn tố giác A lừa đảo, chiếm đoạt tiền, cố ý gây thương tích, trộm cắp hoặc thực hiện một hành vi có dấu hiệu tội phạm mới chỉ tạo ra một nguồn thông tin để cơ quan có thẩm quyền xem xét theo trình tự tố tụng. Nội dung trong đơn tố giác là thông tin cần được kiểm tra, xác minh, chứ bản thân lá đơn không phải là chứng cứ cuối cùng chứng minh người bị tố giác có tội. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cả một giai đoạn tiếp nhận, kiểm tra và giải quyết nguồn tin về tội phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định hướng xử lý.
Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh và ra một trong ba quyết định: khởi tố vụ án hình sự; không khởi tố vụ án hình sự; hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin. Nếu vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng; nếu vẫn chưa thể kết thúc thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần không quá 02 tháng. Quy định này đã được cập nhật theo Luật số 99/2025/QH15.
Như vậy, việc bị mời lên làm việc sau khi có đơn tố giác thường phải được nhìn nhận trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang kiểm tra, xác minh nguồn tin. Chỉ khi có đủ căn cứ theo pháp luật thì vụ việc mới chuyển sang những giai đoạn tố tụng tiếp theo. Ngay cả việc khởi tố vụ án cũng chưa đồng nghĩa tất cả những người bị tố giác đều trở thành bị can; muốn khởi tố một người với tư cách bị can phải đáp ứng căn cứ và thủ tục riêng theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người bị tố giác có quyền biết mình bị tố giác về hành vi gì
Điểm a khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Đồng thời, họ có quyền được thông báo, giải thích về các quyền và nghĩa vụ của mình. Đây là quyền đặc biệt quan trọng bởi một người không thể bảo vệ mình hiệu quả nếu không biết cơ quan có thẩm quyền đang xác minh hành vi nào.
Ví dụ, A được Công an mời lên làm việc liên quan đến việc B tố giác A nhận 500 triệu đồng để mua đất nhưng sau đó không thực hiện. A cần biết nội dung hành vi đang bị tố giác để giải trình đúng trọng tâm: số tiền được giao trong hoàn cảnh nào, hai bên thỏa thuận ra sao, có hợp đồng hay không, A đã sử dụng tiền thế nào, việc không hoàn thành giao dịch xuất phát từ nguyên nhân gì. Nếu A không hiểu mình đang được làm việc với tư cách người bị tố giác mà lại nghĩ mình đã là bị can thì rất dễ có tâm lý hoảng loạn hoặc trình bày lan man những vấn đề không liên quan.
Việc xác định đúng tư cách tố tụng còn giúp phân biệt phạm vi quyền của từng chủ thể. Quyền của người bị tố giác được quy định tại Điều 57; quyền của người bị giữ, người bị bắt được quy định riêng; còn khi một người đã bị khởi tố bị can thì quyền của bị can được điều chỉnh bởi Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không nên đánh đồng các tư cách này.
Người bị tố giác có quyền trình bày lời khai, ý kiến và đưa ra chứng cứ
Theo điểm c, d và đ khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị tố giác có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đồng thời được trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Đây là nhóm quyền có ý nghĩa trực tiếp nhất đối với việc làm rõ nội dung tố giác.
Giả sử một người bị tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì nhận tiền đầu tư nhưng dự án thất bại. Nếu thực tế hai bên có hợp đồng hợp tác đầu tư, người tố giác biết rõ rủi ro, tiền được sử dụng đúng mục đích, người bị tố giác vẫn thường xuyên thông báo tiến độ và sau khi dự án thất bại vẫn chủ động giải quyết nghĩa vụ thì những hợp đồng, chứng từ chuyển tiền, sao kê, hóa đơn, email, tin nhắn và dữ liệu điện tử liên quan có thể rất quan trọng để cơ quan có thẩm quyền đánh giá đúng bản chất vụ việc. Người bị tố giác không nên chỉ trình bày bằng lời rồi mặc nhiên cho rằng cơ quan xác minh sẽ tự tìm được tất cả chứng cứ có lợi.
Tuy nhiên, “chủ động cung cấp chứng cứ” không có nghĩa được chỉnh sửa, tạo mới hoặc tác động vào dữ liệu nhằm thay đổi bản chất sự việc. Ngay khi biết mình bị tố giác, cần bảo quản nguyên trạng những dữ liệu liên quan như điện thoại, tin nhắn, email, camera, hợp đồng, sao kê và tài liệu giao nhận. Việc xóa dữ liệu vì sợ bị hiểu nhầm có thể khiến chính người bị tố giác mất đi tài liệu có lợi cho mình.
Người bị tố giác có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ
Điều 57 không chỉ cho phép người bị tố giác “nộp tài liệu” mà còn cho phép họ trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá. Đây là điểm rất đáng chú ý bởi trong nhiều vụ việc, tranh chấp không nằm ở việc tài liệu có tồn tại hay không mà nằm ở cách hiểu tài liệu đó.
Ví dụ, người tố giác cung cấp một đoạn tin nhắn chỉ gồm vài câu và cho rằng đây là bằng chứng người bị tố giác thừa nhận chiếm đoạt tiền. Nhưng người bị tố giác có thể có toàn bộ lịch sử trao đổi trước và sau đoạn tin nhắn, thể hiện nội dung hoàn toàn khác. Khi đó, người bị tố giác có quyền cung cấp dữ liệu đầy đủ, trình bày bối cảnh và đề nghị kiểm tra, đánh giá toàn bộ nội dung thay vì chỉ dựa trên một phần thông tin bị tách khỏi cuộc hội thoại.
Tương tự, nếu có tranh chấp về chữ ký, tài liệu, dữ liệu điện tử, dòng tiền hoặc một tình tiết khách quan quan trọng, người bị tố giác có thể đưa ra yêu cầu phù hợp để cơ quan có thẩm quyền xem xét. Điều quan trọng là yêu cầu phải cụ thể, gắn trực tiếp với nội dung cần xác minh và có ý nghĩa đối với việc làm rõ nguồn tin.
Người bị tố giác có được nhờ luật sư ngay từ giai đoạn xác minh không?
Có, nhưng cần dùng đúng thuật ngữ pháp lý. Đây là điểm nội dung ban đầu rất dễ bị hiểu chưa chính xác.
Điểm e khoản 1 Điều 57 quy định người bị tố giác có quyền “tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”. Vì vậy, không phải chờ đến khi bị khởi tố bị can mới có thể nhờ luật sư hỗ trợ. Ngay trong giai đoạn giải quyết tố giác, người bị tố giác đã có thể nhờ người đủ điều kiện theo luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi một người đã bị khởi tố bị can thì tư cách và phạm vi quyền chuyển sang chế định người bào chữa theo các quy định tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Sự phân biệt này rất quan trọng. Trong giai đoạn nguồn tin, luật sư tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác theo quy định pháp luật, chứ không nên gọi máy móc là “luật sư bào chữa cho bị can” khi thân chủ chưa phải bị can. Luật sư có thể giúp người bị tố giác hiểu nội dung đang được xác minh, rà soát tài liệu, nhận diện chứng cứ có lợi và bất lợi, chuẩn bị nội dung làm việc và thực hiện các quyền tố tụng phù hợp.
Đặc biệt, việc có luật sư không phải để hướng dẫn người bị tố giác né tránh việc xác minh hoặc che giấu sự thật. Mục tiêu là bảo đảm sự việc được trình bày đầy đủ, chứng cứ được đánh giá khách quan và quyền của người bị tố giác được thực hiện đúng quy định.
Người bị tố giác có quyền được thông báo kết quả giải quyết
Điểm g khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người bị tố giác có quyền được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố. Quyền này đặc biệt quan trọng bởi một người không thể bị đặt mãi trong trạng thái không biết vụ việc đã được xử lý đến đâu.
Theo Điều 147, kết quả giải quyết nguồn tin có thể là quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin. Nếu vụ việc bị tạm đình chỉ, khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì việc phục hồi giải quyết được thực hiện theo Điều 149 và các quy định có liên quan. Cơ chế quản lý, giải quyết các vụ việc tạm đình chỉ còn được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 01/2020.
Vì vậy, nếu đã làm việc nhiều lần nhưng trong thời gian dài không nhận được thông tin về kết quả, người bị tố giác nên theo dõi chính xác ngày cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin, các thông báo hoặc quyết định đã nhận và tình trạng hiện tại của vụ việc. Không nên chỉ dựa vào thông tin truyền miệng rằng “hồ sơ vẫn đang ở Công an”.
Người bị tố giác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng
Điểm h khoản 1 Điều 57 xác định rõ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây là cơ chế pháp lý để bảo vệ người tham gia tố tụng khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng bởi một quyết định hoặc hành vi không đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khiếu nại cần hướng đến một quyết định hoặc hành vi tố tụng cụ thể và phải xác định đúng người có thẩm quyền giải quyết. Không nên chỉ viết chung chung rằng “tôi bị Công an làm khó” hoặc “tôi không đồng ý với việc xác minh”. Một đơn khiếu nại chặt chẽ cần xác định quyết định hoặc hành vi nào bị khiếu nại, diễn ra ngày nào, do ai thực hiện, ảnh hưởng đến quyền nào và căn cứ pháp luật cho rằng việc đó chưa phù hợp.
Đồng thời, quyền khiếu nại không có nghĩa người bị tố giác được quyền từ chối mọi yêu cầu của cơ quan giải quyết nguồn tin. Khoản 2 Điều 57 quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố. Quyền và nghĩa vụ phải được nhìn nhận song song.
Có phải cứ bị tố giác là sẽ bị bắt ngay?
Không. Một đơn tố giác không phải là lệnh bắt.
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định riêng các căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và thủ tục đối với giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác. Việc một người đang bị xác minh theo nguồn tin không tự động tạo ra căn cứ bắt người. Chỉ khi xuất hiện căn cứ tương ứng với một biện pháp được pháp luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền mới được xem xét áp dụng.
Cũng cần lưu ý rằng “chưa bị khởi tố bị can” không đồng nghĩa trong mọi tình huống một người tuyệt đối không thể bị giữ hoặc bắt. Bộ luật có những cơ chế như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã với những căn cứ riêng. Điều 58 cũng quy định riêng quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt, bao gồm quyền được biết lý do bị giữ, bị bắt, trình bày ý kiến và không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Do đó, cách hiểu chính xác phải là: bị tố giác không làm phát sinh việc bắt người một cách tự động; nhưng nếu trong quá trình xác minh xuất hiện căn cứ pháp luật cho một biện pháp tố tụng cụ thể thì cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng theo đúng điều kiện và thủ tục luật định.
Bị tố giác có bị khám nhà, giữ điện thoại hoặc thu giữ tài liệu không?
Cũng không thể hiểu rằng cứ có đơn tố giác là Công an được tự động khám xét nhà, giữ điện thoại hoặc thu toàn bộ tài sản của người bị tố giác. Những hoạt động tác động trực tiếp đến tài sản, chỗ ở, dữ liệu hoặc quyền riêng tư phải có căn cứ và tuân thủ trình tự, thẩm quyền tương ứng của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết nguồn tin, pháp luật cho phép cơ quan có thẩm quyền thực hiện những hoạt động kiểm tra, xác minh nhất định. Khoản 3 Điều 147 quy định các hoạt động có thể được tiến hành trong giai đoạn này, như thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản trong trường hợp luật định.
Vì vậy, nếu được yêu cầu giao nộp điện thoại, tài liệu hoặc đồ vật, người bị tố giác nên xác định rõ căn cứ, người thực hiện, biên bản giao nhận hoặc thu giữ, tình trạng tài sản và nội dung liên quan. Không nên tự ý chống đối nhưng cũng không nên ký biên bản khi chưa đọc kỹ hoặc để trống nội dung.
Người bị tố giác có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội không?
Không nên đặt người bị tố giác vào vị trí “phải tự chứng minh mình vô tội” mới được giải quyết.
Nguyên tắc suy đoán vô tội của tố tụng hình sự đòi hỏi việc xác định tội phạm phải dựa trên trình tự và chứng cứ theo pháp luật. Trong giai đoạn nguồn tin, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh để quyết định có hay không căn cứ khởi tố vụ án. Việc Điều 57 trao cho người bị tố giác quyền trình bày lời khai, đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu không biến quyền đó thành nghĩa vụ phải tự tìm mọi chứng cứ để chứng minh mình không phạm tội.
Tuy vậy, về mặt bảo vệ quyền lợi thực tế, nếu đang có những tài liệu khách quan chứng minh nội dung tố giác không chính xác thì không nên thụ động. Camera có thể bị ghi đè, tin nhắn có thể mất, người làm chứng có thể quên sự việc, dữ liệu giao dịch có thể khó truy xuất sau một thời gian. Vì vậy, chủ động bảo quản và cung cấp chứng cứ có lợi là cách bảo vệ bản thân hiệu quả, dù trách nhiệm xác minh nguồn tin vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền.
Bị tố giác nên làm gì ngay từ buổi làm việc đầu tiên?
Điều đầu tiên cần làm là xác định tư cách tham gia tố tụng và nội dung hành vi bị tố giác. Khi được mời làm việc, nên mang theo giấy tờ cần thiết, đọc kỹ giấy mời hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và chuẩn bị lại toàn bộ diễn biến sự việc theo trình tự thời gian. Nếu vụ việc liên quan đến tiền, cần tập hợp hợp đồng, sao kê, chứng từ thanh toán; nếu liên quan đến giao dịch qua mạng, cần bảo quản dữ liệu điện tử; nếu liên quan đến xô xát, cần giữ hình ảnh, camera, hồ sơ y tế và thông tin người chứng kiến.
Khi trình bày, nên trả lời đúng sự việc mình biết, phân biệt rõ điều trực tiếp chứng kiến với điều nghe người khác kể và tránh suy đoán. Nếu biên bản ghi lời khai hoặc biên bản làm việc có nội dung chưa đúng, cần đề nghị sửa trước khi ký. Không nên ký vào giấy trắng, biên bản còn bỏ trống hoặc văn bản có nội dung khác với lời mình đã trình bày.
Đặc biệt, không nên xóa tin nhắn, tiêu hủy giấy tờ, tác động người tố giác hoặc người làm chứng để họ thay đổi lời khai. Những hành vi này vừa có thể làm mất chứng cứ có lợi, vừa khiến vụ việc trở nên phức tạp hơn. Nếu nội dung tố giác nghiêm trọng hoặc liên quan số tiền lớn, nhiều người, nhiều giao dịch, việc nhờ luật sư ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin có thể giúp hạn chế những sai sót khó khắc phục về sau.
Khi nào người bị tố giác trở thành bị can?
Người bị tố giác không tự động trở thành bị can chỉ vì cơ quan Công an đã làm việc nhiều lần. Đây là hai tư cách tố tụng khác nhau.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Muốn chuyển từ giai đoạn xác minh nguồn tin sang việc khởi tố một cá nhân với tư cách bị can phải có căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm và phải có quyết định khởi tố bị can theo đúng trình tự. Khi đó, người này được hưởng đầy đủ các quyền của bị can theo Điều 60, trong đó có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì, được giải thích quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa và các quyền khác theo luật.
Đây cũng là lý do cần sử dụng thuật ngữ chính xác. Trong giai đoạn giải quyết đơn tố giác, luật sư tham gia để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác theo Điều 57 và các quy định liên quan. Khi người đó bị khởi tố bị can, cơ chế bào chữa được áp dụng theo các quy định dành cho bị can và người bào chữa.
Luật sư có thể hỗ trợ người bị tố giác như thế nào?
Khi tiếp nhận một vụ việc, công việc đầu tiên của luật sư không phải mặc nhiên khẳng định người bị tố giác “không phạm tội” hoặc “chắc chắn sẽ bị khởi tố”, mà phải nghiên cứu toàn bộ nội dung tố giác và tài liệu khách hàng đang có. Cần xác định quan hệ ban đầu là dân sự, kinh doanh hay đã có dấu hiệu hình sự; người tố giác đang cáo buộc hành vi nào; yếu tố nào của cấu thành tội phạm đang được đặt ra; chứng cứ nào có lợi, chứng cứ nào bất lợi và còn dữ liệu nào cần khẩn trương bảo quản.
Tiếp theo, luật sư có thể hỗ trợ chuẩn bị bản trình bày, hệ thống hóa chứng cứ, hướng dẫn cách giao nộp tài liệu, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo phạm vi pháp luật cho phép, theo dõi thời hạn giải quyết nguồn tin và kiểm tra các quyết định, hành vi tố tụng có liên quan. Nếu sau quá trình xác minh thân chủ bị khởi tố bị can thì luật sư chuyển sang thực hiện quyền của người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều quan trọng nhất trong giai đoạn này là không để tâm lý sợ hãi khiến người bị tố giác tự đặt mình vào thế bất lợi. Một lời khai thiếu chính xác, một tài liệu quan trọng bị xóa hoặc một biên bản được ký khi chưa đọc kỹ đều có thể ảnh hưởng đáng kể đến quá trình xác minh sau đó.
Một lá đơn tố giác chưa phải là kết luận một người có tội
Bị tố giác tội phạm và bị xác định có tội là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ người bị tố giác có quyền được biết hành vi bị tố giác; được giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai, ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ và yêu cầu kiểm tra, đánh giá; tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được thông báo kết quả giải quyết và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng. Đồng thời, người bị tố giác có nghĩa vụ có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh và xử lý theo Điều 147. Kết quả có thể là khởi tố vụ án, không khởi tố vụ án hoặc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin; thời hạn thông thường là 20 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài không quá 02 tháng và trong điều kiện luật định có thể được gia hạn một lần không quá 02 tháng.
Vì vậy, nếu đang bị tố giác, hãy nhớ một trình tự đơn giản: xác định mình bị tố giác hành vi gì → xác định đúng tư cách tố tụng → bảo quản chứng cứ → chuẩn bị nội dung trình bày → đọc kỹ biên bản trước khi ký → theo dõi thời hạn giải quyết → sử dụng quyền yêu cầu, khiếu nại khi có căn cứ → cân nhắc nhờ luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngay từ giai đoạn nguồn tin.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 và các luật sửa đổi, bổ sung, trong đó có Luật số 99/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Trọng tâm gồm Điều 13 về suy đoán vô tội; Điều 57 về người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Điều 58 về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; Điều 60 về bị can; Điều 83 về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Điều 144 đến Điều 149 về tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm. Luật số 99/2025/QH15 đã sửa đổi nhiều quy định về tổ chức, thẩm quyền tố tụng và một số nội dung của Điều 147, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
