“Bố mẹ có một mảnh đất, muốn chia trước cho các con để sau này khỏi tranh chấp, nhưng hiện tại vẫn muốn giữ quyền quản lý, sử dụng và chưa muốn sang tên thì phải làm thế nào?”
Đây là tình huống rất phổ biến. Nhiều cha mẹ muốn xác định trước phần đất của từng người con nhưng lại lo rằng nếu sang tên ngay thì con có thể bán, thế chấp, phát sinh nợ nần hoặc xảy ra mâu thuẫn gia đình. Có người vì vậy lựa chọn viết “giấy chia đất”, có người lập hợp đồng tặng cho nhưng chưa đăng ký sang tên, cũng có người giao Giấy chứng nhận cho con giữ và nghĩ rằng như vậy đã chia đất xong.
Vấn đề nằm ở chỗ: “chia đất cho con” trong cách nói thông thường có thể mang nhiều ý nghĩa pháp lý hoàn toàn khác nhau. Cha mẹ muốn chuyển quyền sử dụng đất cho con ngay từ bây giờ hay chỉ muốn xác định người con nào sẽ được hưởng đất sau khi cha mẹ qua đời? Muốn đất vẫn thuộc quyền quyết định của cha mẹ hay muốn con trở thành người sử dụng đất nhưng phải thực hiện nghĩa vụ nhất định?
Chọn sai công cụ pháp lý có thể dẫn đến hậu quả trái hẳn mong muốn ban đầu. Vì vậy, nếu chưa muốn sang tên đất ngay, điều quan trọng nhất không phải là tìm cách “cho đất nhưng vẫn giữ đất”, mà là xác định chính xác thời điểm cha mẹ muốn quyền sử dụng đất thực sự chuyển sang cho con.
Chưa muốn sang tên thì trước hết phải phân biệt “tặng cho đất” và “để lại đất cho con”
Đây là điểm quan trọng nhất. Nếu cha mẹ muốn ngay từ bây giờ quyền sử dụng đất thuộc về người con thì về bản chất đang hướng đến giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất. Khi thực hiện tặng cho, giao dịch phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể, tài sản, hình thức và đăng ký theo pháp luật đất đai.
Ngược lại, nếu mong muốn thực sự là: “Đất vẫn là của bố mẹ trong thời gian bố mẹ còn sống; sau này bố mẹ mất thì con A được phần này, con B được phần kia”, thì ý chí đó gần với việc định đoạt tài sản bằng di chúc hơn là tặng cho ngay.
Hai phương án có hậu quả rất khác nhau. Tặng cho nhằm chuyển tài sản trong thời gian người tặng cho còn sống. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Vì vậy, cha mẹ chưa muốn mất quyền quyết định đối với đất thì không nên vội lập hợp đồng tặng cho chỉ vì muốn “chia trước cho rõ”.
Ví dụ, ông A có 600 m² đất và hai người con. Ông dự định sau này mỗi người được 300 m² nhưng hiện tại vẫn muốn sử dụng toàn bộ khu đất, có quyền bán khi cần tiền chữa bệnh và có thể thay đổi phương án nếu hoàn cảnh gia đình thay đổi. Trong trường hợp này, việc lập di chúc để xác định phần tài sản từng người được hưởng có thể phù hợp với mục tiêu hơn việc sang tên ngay.
Muốn chia trước nhưng đất vẫn thuộc quyền cha mẹ: nên cân nhắc lập di chúc
Nếu mục tiêu là xác định trước người được nhận đất nhưng chưa muốn quyền sử dụng đất chuyển sang con ngay, di chúc là phương án cần được cân nhắc đầu tiên.
Cha mẹ có thể ghi rõ trong di chúc thửa đất nào để lại cho người con nào hoặc xác định từng phần trong một thửa đất. Việc lập di chúc không đồng nghĩa người con ngay lập tức trở thành người sử dụng đất. Trong thời gian người lập di chúc còn sống, về nguyên tắc người đó vẫn có quyền đối với tài sản thuộc sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình.
Một ưu điểm đặc biệt quan trọng là người lập di chúc vẫn có thể thay đổi quyết định. Điều 640 Bộ luật Dân sự 2015 – sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc cho phép người lập di chúc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào; nếu một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Đây chính là điểm giúp di chúc phù hợp với trường hợp cha mẹ muốn “chia trước về ý chí” nhưng chưa muốn “chuyển quyền ngay”.
Ví dụ, năm 2026 cha mẹ lập di chúc để lại thửa đất cho ba người con. Đến năm 2030, hoàn cảnh gia đình thay đổi, cha mẹ muốn điều chỉnh phần tài sản của từng người thì có thể sửa đổi hoặc thay thế di chúc theo quy định. Ngược lại, nếu đã hoàn thành việc tặng cho và sang tên đất cho con thì không thể đơn giản thay đổi ý định rồi yêu cầu lấy lại đất.
Có nên công chứng hợp đồng tặng cho rồi chưa sang tên, đợi vài năm sau mới làm thủ tục?
Đây là cách làm nhiều gia đình lựa chọn nhưng cần hết sức thận trọng.
Tâm lý thường gặp là: “Cứ ký hợp đồng tặng cho trước để xác định đất của từng con, nhưng chưa sang tên. Khi nào bố mẹ thấy phù hợp thì mới cho con đăng ký”. Cách làm này tưởng như dung hòa được cả hai mục tiêu nhưng có thể làm phát sinh những vấn đề pháp lý không cần thiết.
Trước hết phải hiểu rằng hợp đồng tặng cho và di chúc có bản chất khác nhau. Nếu cha mẹ thực sự chưa muốn chuyển quyền mà chỉ muốn xác định người sẽ nhận đất trong tương lai thì không nên sử dụng một hợp đồng tặng cho như một dạng “di chúc thay thế”.
Đối với giao dịch về quyền sử dụng đất, pháp luật còn quy định chặt chẽ về hình thức. Theo khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 – công chứng, chứng thực giao dịch về quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất về nguyên tắc phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Do đó, nếu ý chí thật sự là “đất vẫn hoàn toàn thuộc quyền bố mẹ, sau này con mới được nhận” thì nên sử dụng công cụ pháp lý phản ánh đúng ý chí đó. Việc ký sẵn hợp đồng tặng cho rồi để nhiều năm chưa hoàn tất thủ tục không phải lúc nào cũng là giải pháp an toàn hơn.
Nếu muốn sang tên ngay nhưng vẫn muốn con phải thực hiện nghĩa vụ thì sao?
Đây là trường hợp khác.
Có những cha mẹ thực sự muốn chuyển quyền sử dụng đất cho con ngay, nhưng mong muốn việc tặng cho gắn với một nghĩa vụ cụ thể, chẳng hạn người con phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ hoặc thực hiện một nghĩa vụ nhất định.
Pháp luật dân sự cho phép tặng cho tài sản có điều kiện. Theo Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 – tặng cho tài sản có điều kiện, bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho; điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Trường hợp nghĩa vụ phải thực hiện sau khi tặng cho mà người được tặng cho không thực hiện thì người tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý đến cách thiết kế điều kiện. Những câu như “con phải có hiếu”, “phải chăm sóc bố mẹ chu đáo” nghe có vẻ rõ trong quan hệ gia đình nhưng khi xảy ra tranh chấp lại rất khó xác định thế nào là vi phạm. Nếu sử dụng tặng cho có điều kiện, nghĩa vụ nên được xác định càng cụ thể càng tốt và phải phù hợp pháp luật.
Quan trọng hơn, tặng cho có điều kiện không đồng nghĩa cha mẹ vẫn là người có toàn quyền đối với đất như trước. Vì vậy, nếu mục tiêu thực sự vẫn là giữ nguyên quyền sử dụng đất cho mình thì không nên lựa chọn tặng cho có điều kiện chỉ để tạo cảm giác rằng “sau này vẫn lấy lại được”.
Chỉ viết giấy “chia đất cho các con” có được không?
Trong thực tế, đây có lẽ là cách làm phổ biến nhất.
Cha mẹ viết một tờ giấy với nội dung: “Gia đình có 900 m² đất, nay thống nhất chia cho ba người con, mỗi người 300 m²”; phía dưới cha mẹ và các con ký tên, đôi khi còn có anh em, hàng xóm hoặc trưởng họ làm chứng.
Sau đó gia đình cho rằng đất đã được chia xong.
Không nên hiểu đơn giản như vậy.
Giá trị pháp lý của văn bản không chỉ phụ thuộc vào tiêu đề “Giấy chia đất”, “Biên bản họp gia đình” hay “Giấy cho đất”. Khi có tranh chấp, phải xem nội dung thực tế của văn bản thể hiện giao dịch gì: tặng cho quyền sử dụng đất ngay khi cha mẹ còn sống, định đoạt tài sản sau khi chết hay chỉ ghi nhận dự định phân chia trong gia đình.
Nếu bản chất là tặng cho quyền sử dụng đất thì phải xem xét điều kiện, hình thức và thủ tục tương ứng của giao dịch tặng cho. Nếu bản chất là định đoạt tài sản sau khi chết thì phải đánh giá văn bản có đáp ứng điều kiện của một di chúc hợp pháp hay không.
Vì vậy, việc viết một tờ giấy tay không phải cách để vừa “chia đất xong” vừa “không cần sang tên”. Chính sự không rõ ràng về bản chất văn bản này là nguyên nhân của nhiều tranh chấp sau khi cha mẹ qua đời.
Muốn chia một thửa đất cho ba, bốn người con thì cần tính đến khả năng tách thửa
Giả sử bố mẹ có một thửa đất 1.000 m² và muốn chia cho bốn người con, mỗi người 250 m². Phép chia số học này chưa có nghĩa sau này chắc chắn có thể tách thành bốn thửa độc lập.
Nếu dự định mỗi người được một phần đất riêng thì cần kiểm tra điều kiện tách thửa tại địa phương: diện tích, kích thước, lối đi, khả năng tiếp cận đường giao thông và các điều kiện pháp lý khác tại thời điểm thực hiện. Có trường hợp diện tích tổng thể rất lớn nhưng hình thể thửa đất khiến phương án chia dự kiến không thể thực hiện đúng như mong muốn.
Nếu cha mẹ lập di chúc, nên mô tả phần đất dành cho từng người càng rõ càng tốt: vị trí, diện tích dự kiến, cạnh tiếp giáp, mốc giới hoặc sơ đồ nếu cần thiết. Chỉ ghi “chia đều cho bốn con” có thể giải quyết được tỷ lệ hưởng nhưng chưa chắc giải quyết được câu hỏi ai được phần mặt đường, ai nhận phần phía trong.
Đây là nguyên nhân rất thường gặp của tranh chấp thừa kế: các con đều thừa nhận cha mẹ muốn chia đều nhưng không ai đồng ý với cách chia bằng hiện vật.
Đất đứng tên một mình bố hoặc mẹ chưa chắc người đứng tên được tự chia toàn bộ cho con
Trước khi lập di chúc hoặc tặng cho, phải xác định đất là tài sản của ai.
Giấy chứng nhận chỉ ghi tên bố hoặc chỉ ghi tên mẹ không phải trong mọi trường hợp đều đồng nghĩa toàn bộ quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người đứng tên. Còn phải xem nguồn gốc hình thành quyền sử dụng đất, thời điểm tạo lập, việc được tặng cho hoặc thừa kế riêng và chế độ tài sản vợ chồng.
Nếu đất là tài sản chung của vợ chồng thì việc định đoạt trong thời gian cả hai còn sống phải được xem xét theo quy định về tài sản chung. Một người cũng chỉ có thể lập di chúc định đoạt tài sản thuộc quyền của mình, không thể dùng di chúc để định đoạt cả phần tài sản thuộc quyền của người khác.
Ví dụ, thửa đất là tài sản chung của bố mẹ nhưng bố tự lập di chúc ghi “để lại toàn bộ thửa đất cho con trai”. Khi mở thừa kế, trước hết phải xác định phần quyền thuộc về bố trong khối tài sản chung; không thể mặc nhiên coi toàn bộ thửa đất là di sản của bố.
Do đó, trước khi “chia đất cho con”, bước đầu tiên luôn phải là xác định chính xác chủ thể có quyền đối với đất.
Khi nào cha mẹ thực sự muốn sang tên thì đất phải đủ điều kiện tặng cho
Nếu sau một thời gian cha mẹ quyết định chuyển quyền cho con thì phải kiểm tra các điều kiện thực hiện quyền.
Theo Điều 45 Luật Đất đai 2024 – điều kiện thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụng đất, người sử dụng đất thực hiện quyền tặng cho về nguyên tắc phải đáp ứng các điều kiện như có Giấy chứng nhận thuộc trường hợp luật yêu cầu; đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết theo quy định; quyền sử dụng đất không bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án; còn thời hạn sử dụng đất; không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời phải đáp ứng các điều kiện khác nếu thuộc trường hợp luật quy định.
Nếu chỉ tặng cho một phần của thửa đất thì ngoài điều kiện tặng cho còn phải xem xét việc tách thửa. Nếu tặng cho cả thửa thì thủ tục sẽ khác.
Quan hệ cha mẹ – con có thể liên quan đến các chính sách thuế, lệ phí nhất định nhưng không làm mất đi yêu cầu phải đáp ứng điều kiện pháp lý đối với quyền sử dụng đất.
Đã lập di chúc cho con đất thì bố mẹ còn được bán đất không?
Có thể, nếu người lập di chúc vẫn là người có quyền hợp pháp đối với tài sản và việc định đoạt đáp ứng các điều kiện của pháp luật.
Đây là ưu điểm lớn của phương án lập di chúc trong trường hợp cha mẹ chưa muốn chuyển quyền ngay.
Ví dụ, năm 2026 ông A lập di chúc để lại thửa đất cho con. Năm 2032 ông cần tiền điều trị bệnh và quyết định chuyển nhượng hợp pháp thửa đất đó. Việc trước đây ông từng lập di chúc không có nghĩa quyền định đoạt tài sản của ông bị “đóng băng”.
Tương tự, nếu cha mẹ thay đổi ý định về người được hưởng thì có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc theo Điều 640 Bộ luật Dân sự.
Điều này khác căn bản với trường hợp quyền sử dụng đất đã được tặng cho và đăng ký sang tên cho con. Sau khi quyền đã chuyển sang con, cha mẹ không còn ở vị trí pháp lý như trước để tự mình bán, thế chấp hoặc định đoạt thửa đất.
Có nên sang tên cho một người con “đứng tên hộ” rồi sau này chia tiếp?
Đây là phương án tiềm ẩn rất nhiều tranh chấp.
Một số gia đình vì muốn thủ tục đơn giản nên sang tên toàn bộ đất cho con trưởng rồi dặn: “Con chỉ đứng tên hộ bố mẹ, sau này phải chia cho các em”. Khi cha mẹ còn sống, mọi người đều đồng thuận nên không thấy vấn đề.
Nhưng sau khi cha mẹ qua đời, người đang đứng tên có thể cho rằng đất đã được cha mẹ tặng riêng cho mình. Những người con còn lại lại cho rằng đây chỉ là việc đứng tên hộ. Lúc này, người biết rõ nhất ý chí ban đầu là cha mẹ có thể không còn để xác nhận, trong khi tài liệu chứng minh lại không đầy đủ.
Nếu thực sự muốn mỗi người con được hưởng một phần thì nên thể hiện ý chí bằng công cụ pháp lý phù hợp ngay từ đầu. Không nên chuyển toàn bộ quyền cho một người rồi đặt sự an toàn của tài sản vào một lời hứa miệng.
Có nên giao Giấy chứng nhận cho con giữ khi chưa muốn sang tên?
Việc con giữ bản gốc Giấy chứng nhận không làm quyền sử dụng đất tự động chuyển sang cho con.
Ngược lại, nếu cha mẹ vẫn đang quản lý, sử dụng đất và chưa muốn chuyển quyền thì việc giao giấy tờ quan trọng cho một người con có thể phát sinh những rắc rối không cần thiết, nhất là khi gia đình sau đó có mâu thuẫn.
Cũng không nên sử dụng việc “ai đang giữ sổ” để chứng minh ai là người được chia đất. Quyền đối với bất động sản phải được đánh giá dựa trên căn cứ pháp lý của việc xác lập, chuyển quyền và đăng ký, chứ không đơn thuần dựa vào người đang cầm bản giấy.
Nếu đã lập di chúc, cần lựa chọn phương án lưu giữ phù hợp để bảo đảm văn bản không bị thất lạc, hủy hoại hoặc sửa chữa.
Nếu muốn các con biết trước phần của mình nhưng cha mẹ vẫn giữ đất thì nên làm thế nào?
Trước hết nên kiểm tra toàn bộ tình trạng pháp lý của đất: ai có quyền sử dụng; là tài sản riêng hay tài sản chung; diện tích trên Giấy chứng nhận và thực tế; đất có đang thế chấp hoặc tranh chấp không; nếu chia thành nhiều phần thì khả năng tách thửa thế nào.
Sau đó, nếu mục tiêu là chỉ để các con nhận đất sau khi cha mẹ qua đời, có thể cân nhắc lập di chúc rõ ràng. Trong di chúc nên mô tả chính xác thửa đất và phần tài sản của từng người. Nếu muốn chia bằng hiện vật thì nên tính trước khả năng tách thửa để tránh lập một phương án về sau không thể thực hiện.
Cha mẹ cũng có thể trao đổi công khai với các con về mong muốn của mình, nhưng cần phân biệt cuộc họp gia đình với văn bản pháp lý. Việc các con đều biết “bố mẹ định chia thế nào” có thể giúp hạn chế mâu thuẫn, nhưng không thay thế yêu cầu về hiệu lực của di chúc hoặc giao dịch tặng cho.
Nếu vừa muốn cho con đất vừa muốn được ở trên đất đến cuối đời thì sao?
Đây là trường hợp cần thiết kế phương án kỹ hơn thay vì sử dụng một mẫu hợp đồng tặng cho chung.
Có gia đình muốn sang tên cho con ngay nhưng vẫn muốn cha mẹ tiếp tục sinh sống tại căn nhà trên đất, được sử dụng một phần đất hoặc yêu cầu người con thực hiện nghĩa vụ chăm sóc. Khi đó cần xác định rõ từng mong muốn và lựa chọn cơ chế pháp lý phù hợp.
Không nên chỉ nói miệng: “Bố mẹ cho con đất nhưng bố mẹ được ở đây đến khi mất”. Nếu sau này quan hệ gia đình xấu đi hoặc tài sản phát sinh giao dịch với người khác, một thỏa thuận miệng rất dễ trở thành điểm tranh chấp.
Đặc biệt, cũng không nên mặc nhiên cho rằng cứ ghi điều kiện “không được bán đất” vào hợp đồng thì cha mẹ chắc chắn có thể kiểm soát tài sản mãi mãi. Tính hợp pháp và hậu quả của điều kiện phải được đánh giá trong từng giao dịch cụ thể.
Ba phương án cha mẹ cần phân biệt trước khi quyết định
Có thể hình dung rất đơn giản:
Trường hợp thứ nhất: Cha mẹ vẫn muốn đất hoàn toàn thuộc quyền của mình trong thời gian còn sống, chỉ muốn xác định sau này mỗi người con được hưởng phần nào. Phương án cần ưu tiên nghiên cứu là di chúc.
Trường hợp thứ hai: Cha mẹ muốn chuyển quyền sử dụng đất cho con ngay. Khi đó cần thực hiện tặng cho đúng quy định, đáp ứng điều kiện của Luật Đất đai, hình thức công chứng/chứng thực và đăng ký theo pháp luật.
Trường hợp thứ ba: Cha mẹ muốn chuyển tài sản nhưng đồng thời yêu cầu người con thực hiện một nghĩa vụ cụ thể. Khi đó có thể nghiên cứu tặng cho có điều kiện, nhưng điều kiện phải hợp pháp, rõ ràng và có khả năng chứng minh.
Điểm sai lầm thường gặp là mục tiêu thuộc trường hợp thứ nhất nhưng lại sử dụng công cụ của trường hợp thứ hai. Cha mẹ thực chất chưa muốn chuyển quyền nhưng lại ký hợp đồng tặng cho vì nghĩ rằng “cứ sang tên cho con trước rồi vẫn là đất của gia đình”. Chính sự nhầm lẫn này có thể dẫn đến tranh chấp về sau.
Đã sang tên rồi, cha mẹ có thể lấy lại vì con bất hiếu không?
Không thể mặc nhiên lấy lại.
Nếu cha mẹ đã tặng cho hợp pháp và quyền sử dụng đất đã được đăng ký cho con thì việc cha mẹ sau đó thay đổi ý định không tự động làm giao dịch mất hiệu lực. Muốn đòi lại đất phải xem xét căn cứ pháp lý cụ thể: giao dịch có vô hiệu không, có điều kiện tặng cho hợp pháp mà người con vi phạm hay không, các bên có tự nguyện chuyển lại không hoặc có căn cứ khác theo pháp luật hay không.
Đây là lý do không nên chờ đến sau khi sang tên mới hỏi “làm thế nào để giữ quyền của bố mẹ”.
Thời điểm cần tư vấn kỹ nhất chính là trước khi ký hợp đồng. Một khi giao dịch đã hoàn tất, phạm vi lựa chọn của cha mẹ có thể khác rất nhiều so với trước đó.
Luật sư cần kiểm tra những gì trước khi cha mẹ chia đất cho con?
Đối với trường hợp này, việc đầu tiên không phải là lập ngay hợp đồng tặng cho hay di chúc. Cần kiểm tra nguồn gốc và chủ thể có quyền sử dụng đất, xác định đây là tài sản riêng hay tài sản chung, tình trạng Giấy chứng nhận, hiện trạng sử dụng và khả năng tách thửa.
Sau đó mới xác định chính xác ý chí: chuyển quyền ngay hay sau khi chết; có muốn tiếp tục sử dụng đất không; có muốn thay đổi quyết định sau này không; có nghĩa vụ nào muốn người con thực hiện không; mỗi người con nhận một thửa độc lập hay cùng hưởng chung một thửa.
Chỉ khi trả lời được những câu hỏi này mới nên lựa chọn công cụ pháp lý. Một gia đình muốn cha mẹ giữ toàn quyền đối với đất sẽ cần phương án khác với gia đình muốn con được đứng tên ngay nhưng phải phụng dưỡng cha mẹ.
Muốn “chia trước” không có nghĩa phải “sang tên trước”
Nếu cha mẹ muốn chia đất cho con nhưng chưa muốn quyền sử dụng đất chuyển sang con ngay, không nên vội lập hợp đồng tặng cho hoặc sang tên chỉ vì muốn xác định trước phần tài sản của từng người.
Nếu mong muốn là đất vẫn thuộc quyền cha mẹ trong thời gian còn sống và con chỉ được nhận sau này, có thể cân nhắc lập di chúc. Nếu muốn chuyển quyền ngay thì thực hiện tặng cho theo đúng pháp luật đất đai. Nếu muốn chuyển quyền nhưng gắn với một nghĩa vụ cụ thể thì có thể nghiên cứu tặng cho có điều kiện.
Quan trọng nhất là phải phân biệt rõ ba thời điểm: thời điểm cha mẹ xác định ý chí chia đất – thời điểm lập văn bản pháp lý – thời điểm quyền sử dụng đất thực sự chuyển sang con. Ba thời điểm này không nhất thiết phải trùng nhau.
Vì vậy, trước khi ký bất kỳ giấy tờ nào, cha mẹ nên tự hỏi một câu rất đơn giản: “Sau khi ký giấy này, tôi có còn muốn toàn quyền quyết định đối với mảnh đất hay không?”. Nếu câu trả lời là có, thì việc sang tên ngay cho con rất có thể chưa phải phương án phù hợp.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
