Trong thực tế, nhiều gia đình phát sinh tranh chấp khi con cái trưởng thành, lập gia đình hoặc ra ở riêng và yêu cầu bố mẹ chia đất, chia nhà. Có người cho rằng mình là con ruột, đã sinh sống trên đất từ nhỏ nên đương nhiên có quyền được chia một phần tài sản. Có người lại cho rằng bản thân đã chăm sóc bố mẹ nhiều năm, đóng góp tiền xây nhà hoặc trực tiếp quản lý đất đai nên phải được hưởng phần tài sản tương xứng. Ngược lại, không ít bậc cha mẹ khẳng định toàn bộ tài sản do mình tạo lập, đứng tên trên Giấy chứng nhận nên con cái hoàn toàn không có quyền yêu cầu phân chia.
Những tranh chấp này thường xuất phát từ việc các thành viên trong gia đình chưa phân biệt rõ quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, công sức đóng góp và quyền thừa kế. Đây là những quan hệ pháp luật khác nhau, có điều kiện phát sinh và hậu quả pháp lý riêng biệt.
Chẳng hạn, bố mẹ có một thửa đất rộng 300m², trên đất có căn nhà hai tầng. Người con trai đã kết hôn, sinh sống cùng bố mẹ và đóng góp 500 triệu đồng để xây dựng căn nhà. Sau nhiều năm, gia đình phát sinh mâu thuẫn, người con yêu cầu chia một phần nhà đất nhưng bố mẹ không đồng ý vì cho rằng Giấy chứng nhận chỉ đứng tên hai vợ chồng.
Trong trường hợp này, người con có được yêu cầu chia tài sản không? Nếu có thì được chia đất, chia nhà hay chỉ được thanh toán phần giá trị đã đóng góp? Việc người con có tên trong sổ hộ khẩu hoặc trực tiếp chăm sóc bố mẹ có làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản hay không?
Đặc biệt, cần phân biệt giữa trường hợp bố mẹ còn sống và trường hợp một hoặc cả hai người đã qua đời. Khi bố mẹ còn sống, con cái không đương nhiên có quyền yêu cầu chia tài sản thuộc sở hữu của bố mẹ. Tuy nhiên, khi phát sinh quan hệ thừa kế hoặc có căn cứ chứng minh tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người, quyền lợi của con cái có thể được xác định theo những quy định khác.
Tài sản chung của bố mẹ là gì? Con cái có đương nhiên có quyền đối với tài sản này không?
Trước hết, cần xác định đúng bản chất của tài sản chung của bố mẹ. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong những trường hợp luật định và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn cũng thường được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng theo quy định pháp luật.
Như vậy, nếu bố mẹ cùng tạo lập một căn nhà, mua một thửa đất trong thời kỳ hôn nhân bằng tài sản chung và không có căn cứ xác định đây là tài sản riêng của một người thì về nguyên tắc, tài sản đó thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Việc bố mẹ có bao nhiêu người con không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu này.
Ví dụ, ông A và bà B kết hôn năm 1995, sau đó cùng mua một thửa đất rộng 200m² và xây dựng nhà ở bằng tiền tích lũy của hai vợ chồng. Gia đình có ba người con, tất cả đều đã trưởng thành. Năm 2026, người con trai cả cho rằng mình là con trưởng nên có quyền yêu cầu bố mẹ chia một phần đất để xây nhà riêng. Tuy nhiên, nếu thửa đất thực sự là tài sản chung của ông A và bà B, không có thỏa thuận tặng cho hoặc căn cứ xác lập quyền sở hữu chung cho người con thì yêu cầu chia đất chỉ dựa trên tư cách con trưởng không có cơ sở pháp lý.
Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định pháp luật. Đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phải tuân thủ quy định về tài sản chung và sự thỏa thuận của vợ chồng.
Điều này có nghĩa là bố mẹ có quyền quyết định việc quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho hoặc phân chia tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình, với điều kiện tuân thủ quy định pháp luật. Con cái không thể chỉ dựa vào quan hệ huyết thống để yêu cầu bố mẹ chuyển giao một phần quyền sở hữu khi bố mẹ vẫn còn sống.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa quyền được bố mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc và quyền sở hữu tài sản. Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con trong những trường hợp luật định. Tuy nhiên, nghĩa vụ nuôi dưỡng không đồng nghĩa với việc cha mẹ phải chia quyền sở hữu nhà đất cho con khi con trưởng thành.
Ngược lại, việc con cái có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ cũng không làm phát sinh quyền sở hữu đối với tài sản của bố mẹ. Nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình và quyền tài sản là những quan hệ cần được xem xét độc lập.
Như vậy, nếu nhà đất thực sự là tài sản chung của bố mẹ thì con cái không đương nhiên có quyền yêu cầu phân chia khi bố mẹ còn sống. Quyền của người con chỉ có thể phát sinh khi có căn cứ pháp lý cụ thể như được tặng cho, nhận chuyển nhượng, có chung quyền sở hữu hoặc phát sinh quyền thừa kế.
Con cái đã đóng góp tiền mua đất, xây nhà hoặc cùng bố mẹ tạo lập tài sản thì có được chia không?
Một trong những tình huống tranh chấp phổ biến nhất là con cái có đóng góp tiền bạc, công sức vào việc tạo lập, xây dựng hoặc cải tạo tài sản của bố mẹ. Khi quan hệ gia đình hòa thuận, các bên thường không lập hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận rõ ràng. Tuy nhiên, khi phát sinh mâu thuẫn, người con cho rằng mình có quyền đối với tài sản, trong khi bố mẹ lại xác định khoản tiền đó chỉ là sự hỗ trợ tự nguyện.
Theo Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung được xác định trên cơ sở đóng góp, cùng nhau tạo lập và thỏa thuận của các thành viên. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình phải tuân thủ quy định pháp luật.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng không phải cứ có đóng góp tiền bạc hoặc công sức thì đương nhiên trở thành đồng chủ sở hữu toàn bộ tài sản. Cần xác định bản chất khoản đóng góp, ý chí của các bên và căn cứ hình thành quyền sở hữu.
Ví dụ, ông A và bà B có thửa đất rộng 250m² được cấp Giấy chứng nhận hợp pháp. Năm 2018, người con trai đóng góp 600 triệu đồng để xây dựng căn nhà ba tầng trên đất của bố mẹ. Khi xây nhà, các bên không lập văn bản xác định quyền sở hữu và cũng không thỏa thuận việc người con được hưởng bao nhiêu phần tài sản.
Đến năm 2026, gia đình xảy ra tranh chấp, người con yêu cầu chia một nửa diện tích đất vì đã bỏ tiền xây nhà. Trong trường hợp này, việc người con có đóng góp 600 triệu đồng không tự động làm phát sinh quyền sử dụng đối với một nửa thửa đất. Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất cần được xác định theo nguồn gốc, thỏa thuận và các quy định pháp luật tương ứng.
Nếu có chứng cứ chứng minh các bên đã thỏa thuận cùng tạo lập, cùng sở hữu căn nhà, người con có thể có căn cứ yêu cầu công nhận quyền sở hữu tương ứng. Ngược lại, nếu khoản tiền được xác định là tiền tặng cho bố mẹ để xây nhà thì việc yêu cầu hoàn trả hoặc chia tài sản phải được xem xét theo bản chất giao dịch tặng cho.
Trường hợp người con bỏ tiền xây dựng trên đất của bố mẹ nhưng không có căn cứ xác lập quyền sở hữu chung, cần xem xét khả năng yêu cầu thanh toán giá trị đóng góp hoặc giải quyết quyền lợi đối với tài sản đã tạo lập theo quy định pháp luật. Việc có được thanh toán hay không, thanh toán bao nhiêu và theo căn cứ nào phụ thuộc vào thỏa thuận, chứng cứ và hoàn cảnh cụ thể.
Đối với trường hợp con cái cùng bố mẹ góp tiền mua đất, vấn đề pháp lý có thể khác. Nếu có căn cứ chứng minh người con cùng tham gia nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có thỏa thuận xác lập quyền chung thì việc Giấy chứng nhận chỉ đứng tên bố mẹ chưa đủ để phủ nhận hoàn toàn quyền lợi của người con. Tuy nhiên, việc xác định quyền sử dụng đất phải dựa trên điều kiện pháp luật về đất đai, nội dung giao dịch và chứng cứ chứng minh quyền của từng người.
Những chứng cứ quan trọng thường bao gồm giấy chuyển tiền, hợp đồng mua bán, giấy biên nhận, tin nhắn thỏa thuận, tài liệu xây dựng, lời khai của người biết rõ quá trình tạo lập tài sản và những tài liệu khác có liên quan. Đặc biệt, cần phân biệt giữa đóng góp để xác lập quyền sở hữu chung và đóng góp mang tính hỗ trợ, biếu tặng hoặc thực hiện nghĩa vụ gia đình. Đây là điểm có ý nghĩa quyết định khi Tòa án xem xét yêu cầu chia tài sản. Như vậy, con cái có đóng góp tiền hoặc công sức vào tài sản của bố mẹ có thể có quyền yêu cầu bảo vệ lợi ích hợp pháp, nhưng không đương nhiên được chia đất hoặc chia nhà. Muốn xác định quyền lợi, trước hết phải làm rõ bản chất khoản đóng góp và căn cứ xác lập quyền đối với tài sản.
Bố mẹ còn sống, con cái có quyền yêu cầu chia đất hoặc yêu cầu bố mẹ cho tài sản không?
Trong nhiều gia đình, khi con cái trưởng thành, kết hôn và có nhu cầu ra ở riêng, bố mẹ thường chia đất hoặc tặng cho nhà ở để hỗ trợ con ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, việc này về nguyên tắc xuất phát từ quyền định đoạt tài sản của bố mẹ, không phải nghĩa vụ bắt buộc phải phân chia tài sản cho các con.
Theo Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Đối với bất động sản, việc tặng cho phải tuân thủ những điều kiện về hình thức và đăng ký theo quy định pháp luật.
Ví dụ, bố mẹ có 400m² đất ở và ba người con. Người con cả đã lập gia đình, người con thứ hai đang sinh sống cùng bố mẹ, người con út làm việc ở nước ngoài. Trong trường hợp này, bố mẹ không có nghĩa vụ pháp lý phải chia đều 400m² đất cho ba người con chỉ vì cả ba đều là con ruột.
Nếu bố mẹ tự nguyện tặng cho người con cả 100m² đất và giữ lại phần diện tích còn lại, việc tặng cho phải đáp ứng điều kiện pháp luật về quyền sử dụng đất, tách thửa, hợp đồng và đăng ký biến động. Những người con khác không thể chỉ căn cứ vào việc mình chưa được tặng cho tài sản để yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu.
Tuy nhiên, cần xem xét quyền sở hữu của từng người đối với tài sản được định đoạt. Nếu thửa đất là tài sản chung của bố mẹ thì việc tặng cho phải tuân thủ quy định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Nếu thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của nhiều thành viên gia đình hoặc có người khác cùng có quyền thì bố mẹ không thể tự ý định đoạt phần quyền không thuộc về mình.
Một vấn đề khác là trường hợp bố mẹ hứa cho đất nhưng sau đó thay đổi ý định. Trong thực tế, nhiều gia đình chỉ thỏa thuận miệng rằng sau này sẽ cho con một phần đất để xây nhà. Người con tin tưởng lời hứa, bỏ tiền xây dựng hoặc đầu tư trên đất, nhưng sau đó bố mẹ không thực hiện việc tặng cho như dự kiến.
Khi phát sinh tranh chấp, cần xác định đã có hợp đồng tặng cho hợp pháp hay chưa, việc chuyển quyền đã được thực hiện đến đâu và các bên đã có những thỏa thuận cụ thể nào. Không thể chỉ căn cứ vào lời hứa miệng để mặc nhiên xác định người con đã có quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, nếu người con đã bỏ tiền đầu tư, xây dựng tài sản trên cơ sở sự đồng ý hoặc thỏa thuận với bố mẹ, quyền lợi phát sinh từ việc đầu tư đó vẫn cần được xem xét độc lập. Việc không đủ căn cứ công nhận quyền sử dụng đất không đồng nghĩa với việc mọi khoản đóng góp của người con đều không được pháp luật bảo vệ.
Đặc biệt, không nên nhầm lẫn giữa việc bố mẹ chia tài sản cho con khi còn sống với việc chia di sản thừa kế. Khi bố mẹ còn sống, tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ chưa phải là di sản thừa kế. Vì vậy, người con không thể viện dẫn quyền thừa kế trong tương lai để yêu cầu bố mẹ phải chia tài sản ngay tại thời điểm hiện tại.
Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Đây là căn cứ quan trọng để phân biệt quyền định đoạt tài sản của người đang sống với quyền hưởng di sản của người thừa kế. Như vậy, khi bố mẹ còn sống, con cái không có quyền đương nhiên yêu cầu bố mẹ chia nhà đất hoặc tặng cho tài sản. Việc phân chia chỉ có căn cứ khi bố mẹ tự nguyện thực hiện giao dịch hợp pháp hoặc người con chứng minh được mình đã có quyền đối với tài sản từ trước.
Khi bố hoặc mẹ qua đời, con cái có được yêu cầu chia tài sản chung của bố mẹ không?
Khác với trường hợp bố mẹ còn sống, khi một người qua đời, quyền thừa kế đối với phần tài sản thuộc sở hữu của người chết có thể phát sinh. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng không phải toàn bộ tài sản chung của bố mẹ đều trở thành di sản khi chỉ một người qua đời.
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì vậy, nếu nhà đất là tài sản chung của vợ chồng thì trước hết cần xác định phần quyền thuộc người đã chết. Chỉ phần tài sản này mới được xem xét phân chia thừa kế.
Ví dụ, ông A và bà B có một thửa đất rộng 300m², được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo chế độ sở hữu chung hợp nhất. Ông A qua đời năm 2025, không để lại di chúc. Trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc căn cứ pháp luật làm thay đổi tỷ lệ quyền sở hữu, có thể xác định phần tài sản của ông A tương ứng một nửa giá trị quyền sử dụng đất, còn phần của bà B vẫn thuộc quyền sở hữu của bà B.
Khi đó, phần di sản của ông A được phân chia theo quy định pháp luật về thừa kế. Nếu ông A không để lại di chúc hợp pháp, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ luật Dân sự có thể được hưởng di sản, bao gồm vợ, cha mẹ và các con của người chết theo quy định.
Giả sử ông A có vợ là bà B, ba người con và cha mẹ ông A đều đã qua đời trước ông A. Nếu không có người thừa kế nào khác thuộc hàng thứ nhất, không có trường hợp từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng di sản và không có tình tiết làm thay đổi cách chia, phần di sản của ông A sẽ được chia đều cho bà B và ba người con, tức bốn suất thừa kế. Trong tình huống này, các con có quyền yêu cầu chia phần di sản của ông A nhưng không có quyền yêu cầu chia luôn phần tài sản thuộc sở hữu riêng của bà B chỉ vì bà B là mẹ của mình. Đặc biệt, nếu ông A có di chúc hợp pháp thì việc phân chia di sản trước hết phải xem xét nội dung di chúc, đồng thời bảo đảm quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự nếu đáp ứng điều kiện luật định.
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, một số người thừa kế, bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động, có thể được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định, trừ những trường hợp pháp luật loại trừ.
Một vấn đề khác là trường hợp bố mẹ đều đã qua đời nhưng nhà đất vẫn đứng tên hai người hoặc chưa được phân chia. Khi đó, cần xác định thời điểm mở thừa kế của từng người, phần di sản của mỗi người, những người thừa kế tương ứng và các giao dịch đã phát sinh trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản.
Không thể mặc nhiên lấy toàn bộ diện tích đất chia đều cho các con mà bỏ qua quyền thừa kế của những người khác hoặc những biến động về quyền sở hữu đã phát sinh trước đó. Ngoài ra, quyền yêu cầu chia di sản còn chịu sự điều chỉnh của quy định về thời hiệu thừa kế. Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Việc xác định hậu quả pháp lý khi hết thời hiệu phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng vụ việc và các quy định liên quan. Như vậy, khi bố hoặc mẹ qua đời, con cái có thể có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, nhưng chỉ đối với phần tài sản thuộc người đã chết. Phần tài sản của người còn sống hoặc phần quyền của những đồng sở hữu khác không đương nhiên trở thành di sản.
Khi con cái và bố mẹ tranh chấp nhà đất, cần làm gì để xác định đúng quyền lợi của từng người?
Trong thực tế, tranh chấp tài sản giữa bố mẹ và con cái thường phức tạp vì các giao dịch trong gia đình chủ yếu dựa trên sự tin tưởng, ít được lập thành văn bản. Có trường hợp bố mẹ đứng tên toàn bộ nhà đất nhưng tiền mua đất do nhiều thành viên cùng đóng góp. Có trường hợp người con trực tiếp xây dựng nhà trên đất của bố mẹ, hoặc đã được bố mẹ hứa cho đất từ nhiều năm trước nhưng chưa hoàn tất thủ tục pháp lý.
Vì vậy, để giải quyết tranh chấp, vấn đề đầu tiên cần xác định là tài sản đang tranh chấp thực sự thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của ai. Đây là bước có ý nghĩa quyết định, bởi nếu xác định sai chủ thể có quyền thì yêu cầu chia tài sản có thể không được Tòa án chấp nhận.
Đối với nhà đất, cần nghiên cứu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, nguồn gốc hình thành tài sản, hợp đồng chuyển nhượng, văn bản tặng cho, tài liệu thừa kế và những chứng cứ khác. Đặc biệt, không nên chỉ dựa vào tên người đứng trên Giấy chứng nhận để kết luận toàn bộ quyền tài sản thuộc riêng người đó trong mọi trường hợp.
Ví dụ, một thửa đất được cấp Giấy chứng nhận đứng tên “Hộ ông A”. Khi tranh chấp phát sinh, người con cho rằng mình có quyền sử dụng đất vì là thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy. Trong trường hợp này, cần xem xét điều kiện xác lập quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình theo pháp luật đất đai áp dụng tại thời điểm hình thành quyền. Nếu người con thực sự có chung quyền sử dụng đất thì quyền của họ cần được bảo vệ độc lập với quan hệ thừa kế.
Ngược lại, nếu Giấy chứng nhận đứng tên riêng bố mẹ và hồ sơ thể hiện đất do bố mẹ tạo lập bằng tài sản chung, người con không thể chỉ căn cứ vào việc đã sinh sống trên đất nhiều năm để yêu cầu chia quyền sử dụng đất. Đối với tài sản có sự đóng góp của con cái, cần thu thập chứng cứ thể hiện khoản tiền, công sức và thỏa thuận giữa các bên. Nếu có căn cứ xác định tài sản thuộc sở hữu chung, người có quyền có thể yêu cầu xác định phần quyền và phân chia tài sản chung theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp khoản đóng góp không làm phát sinh quyền sở hữu chung, cần xem xét có căn cứ yêu cầu hoàn trả tiền, thanh toán giá trị tài sản hoặc giải quyết nghĩa vụ dân sự khác hay không. Việc lựa chọn đúng yêu cầu khởi kiện có ý nghĩa quan trọng, bởi yêu cầu chia quyền sử dụng đất và yêu cầu thanh toán khoản tiền đóng góp là những yêu cầu có bản chất pháp lý khác nhau.
Đối với tranh chấp phát sinh sau khi bố mẹ qua đời, cần xác định di sản, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế và những giao dịch liên quan. Nếu một người con đang quản lý toàn bộ tài sản, việc người đó trực tiếp sử dụng nhà đất không đương nhiên làm mất quyền thừa kế của những người khác. Tuy nhiên, công sức quản lý, bảo quản, duy trì hoặc làm tăng giá trị di sản có thể được xem xét khi có căn cứ pháp luật và chứng cứ phù hợp.
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là việc xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp trước khi khởi kiện. Nếu tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu chung, yêu cầu khởi kiện cần tập trung vào căn cứ xác lập quyền và phần quyền của từng người. Nếu tranh chấp về thừa kế, cần xác định di sản và hàng thừa kế. Nếu tranh chấp liên quan đến việc bố mẹ hứa tặng cho đất nhưng không thực hiện, cần xem xét hiệu lực giao dịch và nghĩa vụ phát sinh.
Ngoài ra, không phải mọi tranh chấp liên quan đến nhà đất đều bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện. Điều kiện hòa giải cần được xác định theo đúng quan hệ tranh chấp và quy định pháp luật đất đai, tố tụng dân sự hiện hành. Đặc biệt, trước khi khởi kiện, các bên nên cân nhắc khả năng thương lượng, xác định rõ tài sản và quyền lợi của từng người để hạn chế những tranh chấp kéo dài. Tuy nhiên, việc thương lượng cần dựa trên căn cứ pháp luật, tránh tình trạng một bên bị gây áp lực phải từ bỏ quyền tài sản hợp pháp chỉ vì quan hệ gia đình.
Như vậy, muốn xác định con cái có được chia tài sản của bố mẹ hay không, phải làm rõ nguồn gốc tài sản, chủ thể có quyền, công sức đóng góp và thời điểm phát sinh yêu cầu. Không thể chỉ căn cứ vào quan hệ cha mẹ – con cái để kết luận người con có hoặc không có quyền đối với tài sản.
LÀ CON RUỘT KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI VIỆC ĐƯƠNG NHIÊN ĐƯỢC CHIA TÀI SẢN CỦA BỐ MẸ
Tài sản chung của bố mẹ không đương nhiên là tài sản chung của cả gia đình. Nếu nhà đất do bố mẹ tạo lập và thuộc quyền sở hữu hợp pháp của hai vợ chồng thì khi bố mẹ còn sống, con cái không có quyền yêu cầu chia tài sản chỉ vì là con ruột, con trưởng hoặc đang sinh sống cùng bố mẹ.
Tuy nhiên, nếu người con có căn cứ chứng minh mình đã cùng xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hoặc có đóng góp tạo lập tài sản trên cơ sở thỏa thuận hợp pháp, quyền lợi của người con cần được xem xét theo bản chất giao dịch và những chứng cứ liên quan. Đặc biệt, khi một hoặc cả hai người đã qua đời, con cái có thể phát sinh quyền thừa kế đối với phần tài sản thuộc di sản của người chết. Việc phân chia phải bảo đảm quyền của người còn sống, những đồng sở hữu khác và các chủ thể có quyền thừa kế theo quy định pháp luật.
Vì vậy, không thể khẳng định mọi người con đều được chia tài sản của bố mẹ, nhưng cũng không thể mặc nhiên phủ nhận quyền của người con chỉ vì Giấy chứng nhận đứng tên bố mẹ. Kết quả giải quyết phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản, căn cứ xác lập quyền và những chứng cứ cụ thể của từng vụ việc. Luật Công Tâm hỗ trợ tư vấn xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; tranh chấp quyền sở hữu nhà đất giữa các thành viên gia đình; xác định công sức đóng góp; tranh chấp thừa kế; yêu cầu chia tài sản chung; nghiên cứu hồ sơ pháp lý, soạn thảo đơn khởi kiện và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng tại Tòa án.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0972810901 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
