Sau một vụ đánh nhau, người bị hại làm đơn yêu cầu khởi tố, cơ quan điều tra tiến hành xác minh, trưng cầu giám định thương tích và sau đó khởi tố vụ án. Trong quá trình giải quyết, người gây thương tích chủ động xin lỗi, bồi thường viện phí, bù đắp tổn thất và được bị hại đồng ý hòa giải. Bị hại viết đơn “bãi nại”, đề nghị không xử lý hình sự và cho rằng hai bên đã giải quyết xong với nhau. Lúc này, câu hỏi thường được đặt ra là: bị hại đã rút đơn thì vụ án có được đình chỉ không? Người gây thương tích còn phải đi tù không?
Đây là vấn đề rất dễ bị hiểu sai. Trong pháp luật tố tụng hình sự, không phải cứ bị hại “bãi nại” là vụ án đương nhiên kết thúc. Hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố phụ thuộc trước hết vào tội danh và khoản nào của điều luật đang được áp dụng. Có vụ án mà việc rút yêu cầu của bị hại dẫn đến đình chỉ, nhưng cũng có vụ án dù bị hại đã tha thứ, nhận đủ tiền bồi thường và đề nghị không xử lý thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử.
Vì vậy, khi xảy ra một vụ cố ý gây thương tích, câu hỏi chính xác không phải chỉ là “bị hại có bãi nại hay chưa?”, mà phải xác định vụ án đang bị xử lý theo khoản nào của Điều 134 Bộ luật Hình sự và có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không.
“Bãi nại” không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với rút yêu cầu khởi tố
Trong thực tế, người dân thường sử dụng các cụm từ như “đơn bãi nại”, “đơn xin giảm nhẹ”, “đơn xin miễn trách nhiệm”, “đơn rút đơn tố cáo” hoặc “đơn không yêu cầu xử lý”. Tuy nhiên, về hậu quả tố tụng, điều quan trọng không nằm ở tên của tờ đơn mà nằm ở nội dung thể hiện ý chí của bị hại và vụ án có thuộc trường hợp pháp luật cho phép khởi tố theo yêu cầu của bị hại hay không.
Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hiện nay chỉ những tội phạm thuộc khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự mới thuộc nhóm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện trong những trường hợp luật quy định. Quy định hiện hành năm 2026 cũng xác định khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Như vậy, “bãi nại” chỉ có khả năng làm chấm dứt vụ án theo cơ chế này khi vụ án thực sự thuộc phạm vi Điều 155. Nếu không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mong muốn của bị hại vẫn có thể có giá trị trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có nghĩa cứ nộp đơn là cơ quan điều tra phải đình chỉ.
Đây là điểm cần kiểm tra đầu tiên trước khi đặt vấn đề thương lượng bồi thường để rút yêu cầu.
Cố ý gây thương tích: phải xem đang bị xử lý theo khoản 1 hay khoản khác của Điều 134
Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, việc xác định chính xác khoản áp dụng có ý nghĩa quyết định.
Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định nhiều khung trách nhiệm hình sự khác nhau căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết định khung như tính chất hành vi, đối tượng bị xâm hại, phương thức thực hiện và những yếu tố khác do điều luật quy định. Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 134, chứ không phải toàn bộ Điều 134. Vì vậy, nếu vụ án được khởi tố về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 và đáp ứng đúng cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu có thể dẫn đến đình chỉ vụ án.
Ngược lại, nếu hành vi đủ căn cứ bị xử lý theo khoản 2, khoản 3 hoặc khung nặng hơn của Điều 134 thì vụ án không còn thuộc trường hợp khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi đó, dù bị hại đã nhận bồi thường, viết đơn xin giảm nhẹ và tuyên bố không yêu cầu xử lý, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định. Đây chính là lý do cùng là một vụ “đánh nhau”, nhưng có người rút đơn thì vụ án được đình chỉ, trong khi trường hợp khác bị hại xin đến đâu vụ án vẫn tiếp tục đến Tòa.
Bị thương dưới 11% thì rút đơn chắc chắn được đình chỉ không?
Không nên kết luận như vậy. Tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% không đồng nghĩa với việc hành vi chắc chắn không cấu thành tội phạm, cũng không đồng nghĩa mọi trường hợp đều thuộc khoản 1 Điều 134. Điều luật còn quy định những trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng có các tình tiết luật định thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, khi tư vấn không nên chỉ nhìn vào kết luận giám định ghi 5%, 8% hay 10% rồi nói ngay rằng “rút đơn là xong”. Cần đọc quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra hoặc cáo trạng để xác định chính xác điều, khoản đang được áp dụng.
Ví dụ, A đánh B gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 8%. Nếu hành vi thuộc khoản 1 Điều 134 và vụ án được khởi tố trên cơ sở yêu cầu của B thì việc B tự nguyện rút yêu cầu có thể dẫn đến hậu quả tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nhưng nếu trong quá trình điều tra xuất hiện căn cứ pháp lý khiến hành vi được xác định thuộc một khung khác không nằm trong phạm vi khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì việc B làm đơn xin không xử lý không đương nhiên chấm dứt vụ án. Vì thế, tỷ lệ thương tích chỉ là một dữ kiện. Muốn biết “rút đơn có được đình chỉ không” phải xác định đầy đủ cấu thành và khung hình phạt.
Nếu bị hại rút yêu cầu đúng trường hợp luật quy định thì hậu quả thế nào?
Khoản 2 Điều 155 quy định khá rõ: nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Điểm đáng chú ý ở đây là pháp luật sử dụng cơ chế khởi tố “theo yêu cầu của bị hại” đối với một số tội phạm nhất định. Nghĩa là ý chí của bị hại có vai trò đặc biệt đối với việc khởi động và tiếp tục quá trình tố tụng trong phạm vi luật quy định.
Ví dụ, sau một vụ xô xát thuộc khoản 1 Điều 134, B yêu cầu khởi tố A. Sau đó A bồi thường đầy đủ, hai bên hòa giải và B thực sự tự nguyện rút yêu cầu khởi tố. Nếu vụ án vẫn thuộc đúng trường hợp khoản 1 Điều 155 thì đây là căn cứ để giải quyết theo cơ chế đình chỉ tương ứng. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng người rút yêu cầu phải chính là người có quyền yêu cầu theo quy định. Đồng thời, việc rút phải xuất phát từ ý chí tự nguyện. Không phải cứ có một tờ giấy mang tên “Đơn bãi nại” là cơ quan tiến hành tố tụng lập tức kết thúc vụ án.
Ép bị hại rút đơn có làm vụ án đình chỉ không?
Không. Đây thậm chí còn có thể khiến tình hình trở nên nghiêm trọng hơn.
Điều 155 đã dự liệu trường hợp người bị hại rút yêu cầu do bị ép buộc hoặc cưỡng bức. Nếu có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ thì dù đã có văn bản rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng. Ví dụ, sau khi gây thương tích, gia đình người bị buộc tội liên tục đến nhà gây áp lực, đe dọa hoặc buộc bị hại ký đơn. Nếu những hành vi này được chứng minh thì tờ đơn không tạo ra hậu quả giống một việc rút yêu cầu hoàn toàn tự nguyện.
Do đó, việc thương lượng bồi thường phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Hai bên có thể trao đổi về chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần và những thiệt hại hợp pháp khác, nhưng không được biến việc bồi thường thành công cụ đe dọa hoặc cưỡng ép người bị hại từ bỏ quyền của mình. Trong thực tế, cách ứng xử sau khi vụ việc xảy ra cũng có thể ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá thái độ của người thực hiện hành vi.
Rút yêu cầu rồi có được đổi ý yêu cầu khởi tố lại không?
Đây là vấn đề người bị hại cần cân nhắc rất kỹ trước khi ký. Khoản 3 Điều 155 quy định người đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp việc rút yêu cầu trước đó do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
Ví dụ, B yêu cầu khởi tố A. Sau đó A hứa sẽ bồi thường 200 triệu đồng nên B tự nguyện rút yêu cầu. Khi vụ án đã được xử lý trên cơ sở việc rút yêu cầu, nếu sau đó A không thực hiện đúng lời hứa thì B không thể mặc nhiên cho rằng mình được quyền nộp lại yêu cầu khởi tố từ đầu. Việc xử lý nghĩa vụ bồi thường hoặc cam kết giữa các bên còn phải xem xét theo quan hệ pháp luật tương ứng.
Vì vậy, người bị hại không nên ký đơn rút yêu cầu chỉ dựa trên lời hứa “về nhà sẽ chuyển tiền”. Nếu việc bồi thường là điều kiện quan trọng để hai bên hòa giải thì cần xác định rõ số tiền, phương thức, thời điểm thanh toán và việc thực hiện trên thực tế trước khi đưa ra quyết định. Ngược lại, phía người gây thương tích cũng không nên cho rằng cứ có chữ ký rút đơn là có thể không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Điều đó rất dễ làm phát sinh một tranh chấp mới.
Bị hại chỉ viết đơn xin giảm nhẹ thì có phải là rút yêu cầu khởi tố không?
Không nhất thiết. Đây là hai ý chí pháp lý khác nhau. Bị hại có thể vẫn muốn vụ án được giải quyết nhưng do người gây thương tích đã xin lỗi, bồi thường đầy đủ nên đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt. Trong trường hợp này, nội dung của đơn không nhất thiết thể hiện ý chí rút yêu cầu khởi tố vụ án.
Ngược lại, nếu bị hại thể hiện rõ rằng mình rút yêu cầu khởi tố đã đưa ra trước đó thì phải xem xét hậu quả theo Điều 155 nếu vụ án thuộc phạm vi điều luật.
Do đó, không nên chỉ nhìn tiêu đề “Đơn bãi nại”. Có những đơn ghi tên là bãi nại nhưng nội dung chỉ xin giảm nhẹ. Cũng có văn bản không mang tên “rút yêu cầu khởi tố” nhưng nội dung thể hiện rất rõ việc người có quyền không còn yêu cầu khởi tố. Khi giải quyết vụ án, nội dung và ý chí thực sự của người lập đơn mới là vấn đề cần được làm rõ.
Bị hại rút đơn nhưng vụ án vẫn tiếp tục thì việc bồi thường có còn ý nghĩa không?
Có, và đây là điểm rất quan trọng. Nếu vụ án không thuộc trường hợp được đình chỉ theo Điều 155, việc bồi thường và thái độ của bị hại vẫn có thể được xem xét trong quá trình quyết định hình phạt. Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật định.
Ví dụ, vụ án cố ý gây thương tích đã được xác định thuộc khoản 2 Điều 134 nên việc bị hại rút yêu cầu không làm vụ án đình chỉ. Tuy nhiên, nếu bị cáo đã chủ động đưa người bị hại đi cấp cứu, thanh toán toàn bộ viện phí, bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ thì những tình tiết này vẫn có ý nghĩa khi Tòa án lượng hình.
Điều cần tránh là biến “đã bồi thường” thành lập luận rằng đương nhiên không còn trách nhiệm hình sự. Bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự là hai vấn đề có liên quan nhưng không đồng nhất. Trong trường hợp vụ án thuộc diện Nhà nước chủ động truy cứu, sự hòa giải của hai bên không tự động xóa bỏ trách nhiệm hình sự.
Đã bồi thường đầy đủ có chắc chắn được hưởng án treo không?
Bồi thường là một tình tiết quan trọng nhưng án treo không phải kết quả tự động của việc bồi thường. Việc có được hưởng án treo hay không còn phụ thuộc vào mức hình phạt tù mà Tòa án quyết định, nhân thân, số lượng và tính chất các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, khả năng tự cải tạo và các điều kiện pháp luật quy định về án treo.
Vì vậy, câu nói “cứ bồi thường cho bị hại rồi chắc chắn được án treo” là không chính xác. Tương tự, bị hại có đơn xin cho bị cáo hưởng án treo cũng không buộc Hội đồng xét xử phải chấp nhận.
Tòa án phải đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả, nguyên nhân phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết cụ thể của vụ án. Ý kiến của bị hại là một yếu tố đáng xem xét nhưng không thay thế quyền quyết định của Tòa án.
Rút đơn ở giai đoạn điều tra, truy tố hay xét xử có khác nhau không?
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không đặt ra quy tắc rằng bị hại chỉ được rút yêu cầu ở giai đoạn điều tra. Vấn đề cốt lõi vẫn là vụ án có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại và việc rút yêu cầu có hợp pháp, tự nguyện hay không. Các quy định tố tụng về đình chỉ ở từng giai đoạn sẽ được áp dụng tương ứng.
Do đó, không nên hiểu rằng “đã chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát thì không rút được” hoặc “đã ra Tòa thì bãi nại không còn ý nghĩa”. Tuy nhiên, hậu quả pháp lý cụ thể phải được đặt trong giai đoạn tố tụng thực tế và căn cứ đình chỉ tương ứng.
Quan trọng hơn, nếu vụ án ngay từ đầu không thuộc phạm vi khoản 1 Điều 155 thì tranh luận về việc rút ở giai đoạn nào cũng không làm thay đổi bản chất: việc rút yêu cầu không phải căn cứ đương nhiên để chấm dứt vụ án.
Nếu vụ án có nhiều người đánh một bị hại thì bị hại có thể rút riêng cho một người không?
Đây cũng là tình huống dễ phát sinh khi các bên thương lượng. Ví dụ, ba người cùng bị xử lý trong một vụ án, nhưng một người đã bồi thường nên bị hại nói rằng chỉ muốn “rút đơn cho người này”, còn hai người kia vẫn yêu cầu xử lý.
Cần phân biệt yêu cầu khởi tố vụ án với mong muốn xin giảm nhẹ cho một cá nhân. Cơ chế tại Điều 155 là rút yêu cầu khởi tố vụ án chứ không đơn thuần là lựa chọn tùy ý đình chỉ trách nhiệm đối với một bị can trong cùng vụ án trong khi vẫn duy trì yêu cầu khởi tố đối với những người khác.
Nếu bị hại muốn thể hiện thái độ khoan dung riêng với một người đã tích cực bồi thường, họ có thể trình bày ý kiến đề nghị xem xét giảm nhẹ đối với người đó. Việc xác định trách nhiệm và mức hình phạt của từng bị can, bị cáo sau đó phải dựa vào vai trò, hành vi và các tình tiết riêng của từng người.
Điều này đặc biệt quan trọng trong các vụ án đồng phạm, bởi không thể biến quyền yêu cầu khởi tố thành quyền tự quyết định người nào “được ra khỏi vụ án”.
Bị hại không rút đơn nhưng xin giảm nhẹ thì người gây thương tích nên làm gì?
Trong nhiều vụ việc, bị hại không đồng ý rút yêu cầu nhưng vẫn ghi nhận việc người gây thương tích đã bồi thường và xin Tòa án xem xét giảm nhẹ. Đây vẫn là một kết quả có giá trị đối với việc bảo vệ người bị buộc tội.
Thay vì gây sức ép buộc bị hại phải viết “đơn bãi nại”, phía người gây thương tích nên tập trung khắc phục hậu quả thực tế. Các khoản viện phí, thu nhập bị mất, chi phí chăm sóc và những thiệt hại hợp lý khác cần được trao đổi rõ ràng, có chứng từ hoặc biên bản giao nhận.
Nếu bị hại không nhận tiền, người thực hiện hành vi cũng cần lựa chọn phương thức hợp pháp để thể hiện thiện chí khắc phục hậu quả thay vì coi việc bị từ chối nhận tiền là lý do không cần thực hiện thêm bất kỳ hành động nào.
Quan trọng nhất, bồi thường nên xuất phát từ việc khắc phục hậu quả đã gây ra chứ không phải “mua một lá đơn”. Cách tiếp cận này vừa phù hợp pháp luật vừa giúp việc đánh giá tình tiết giảm nhẹ có cơ sở thuyết phục hơn.
Luật sư cần kiểm tra gì trước khi tư vấn “rút đơn là được đình chỉ”?
Trước tiên phải đọc chính xác quyết định khởi tố và điều khoản đang được áp dụng. Nếu là cố ý gây thương tích thì phải xác định khoản 1 hay khoản khác của Điều 134. Đây là bước quyết định trước khi nói đến hậu quả của việc rút yêu cầu.
Sau đó phải kiểm tra ai là người đã yêu cầu khởi tố, người dự kiến rút có đúng chủ thể hay không, ý chí rút có hoàn toàn tự nguyện không và nội dung văn bản thực sự là rút yêu cầu khởi tố hay chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư cũng cần kiểm tra kết luận giám định thương tích, công cụ được sử dụng, diễn biến hành vi, số người tham gia và những tình tiết có thể làm thay đổi khung pháp lý. Không nên chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích rồi tư vấn ngay rằng vụ án thuộc khoản 1.
Nếu vụ án không thể đình chỉ, hướng xử lý cần chuyển sang việc khắc phục hậu quả, thu thập các tình tiết giảm nhẹ, cá thể hóa vai trò của người bị buộc tội và chuẩn bị phương án bào chữa phù hợp thay vì tiếp tục kỳ vọng rằng chỉ cần một “đơn bãi nại” sẽ kết thúc toàn bộ vụ án.
Bị hại bãi nại không có nghĩa mọi vụ án đều kết thúc
Trong vụ án hình sự, đặc biệt là cố ý gây thương tích, giá trị pháp lý của việc bị hại rút yêu cầu phụ thuộc trực tiếp vào điều, khoản đang được áp dụng. Nếu vụ án thuộc khoản 1 Điều 134 và thuộc cơ chế khởi tố theo yêu cầu của bị hại tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu có thể dẫn đến đình chỉ vụ án. Nhưng nếu hành vi bị xử lý ở khoản khác của Điều 134 thì việc bị hại nhận đủ tiền, hòa giải và viết đơn xin không xử lý không đương nhiên làm chấm dứt trách nhiệm hình sự.
Ngay cả khi vụ án vẫn tiếp tục, việc tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và được bị hại đề nghị giảm nhẹ vẫn có giá trị quan trọng khi giải quyết trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trước khi thương lượng hoặc lập đơn, cần xác định chính xác vụ án thuộc trường hợp nào để tránh kỳ vọng sai rằng “có đơn bãi nại là chắc chắn không phải đi tù”.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Website: luatcongtam.com.vn.
Email: [email protected].
