Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án xây dựng đường giao thông, mở rộng đường hoặc phát triển cơ sở hạ tầng, vấn đề được người dân quan tâm nhiều nhất thường là mức bồi thường đối với diện tích đất bị thu hồi. Đặc biệt, không ít hộ gia đình cho rằng số tiền bồi thường được phê duyệt quá thấp so với giá chuyển nhượng đất thực tế tại địa phương, thậm chí không đủ để mua một thửa đất khác có diện tích và điều kiện sinh sống tương đương.
Có trường hợp một hộ gia đình đang sử dụng đất ở ổn định, có nhà cửa và công trình xây dựng nhưng khi nhận phương án bồi thường mới phát hiện diện tích được công nhận là đất ở thấp hơn thực tế. Có trường hợp đất nằm sát mặt đường nhưng cơ quan có thẩm quyền lại xác định vị trí đất để tính bồi thường chưa phù hợp. Thậm chí, một số hộ gia đình chưa được xem xét đầy đủ giá trị nhà ở, cây trồng, công trình hoặc những khoản hỗ trợ liên quan khi bị thu hồi đất.
Những vấn đề này khiến nhiều người đặt câu hỏi: Giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi được xác định như thế nào? Người dân có quyền yêu cầu bồi thường theo giá thị trường không? Nếu không đồng ý với phương án bồi thường thì có được từ chối nhận tiền, khiếu nại hoặc khởi kiện không? Việc chưa nhận tiền bồi thường có khiến cơ quan nhà nước không được thu hồi đất hay không?
Theo Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành, việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải tuân thủ những nguyên tắc, điều kiện và trình tự nhất định. Người có đất bị thu hồi có quyền được biết, tham gia ý kiến về phương án bồi thường và sử dụng những biện pháp pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền lợi khi cho rằng việc xác định mức bồi thường chưa đúng quy định.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa việc người dân cho rằng giá bồi thường thấp so với giá mua bán trên thị trường với trường hợp phương án bồi thường được xác định sai căn cứ pháp luật. Không phải cứ giá bồi thường thấp hơn giá giao dịch thực tế thì đương nhiên có căn cứ yêu cầu hủy phương án bồi thường.
Giá bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi làm đường được xác định như thế nào?
Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án giao thông, việc bồi thường về đất không được xác định đơn thuần theo mức giá do người dân đề xuất hoặc giá mua bán phổ biến trên các trang giao dịch bất động sản.
Theo Điều 91 Luật Đất đai 2024, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm các nguyên tắc luật định, trong đó có yêu cầu dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định pháp luật.
Đối với trường hợp đủ điều kiện được bồi thường về đất, nguyên tắc là ưu tiên bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi. Nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do cơ quan có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong những trường hợp đáp ứng điều kiện luật định, người có đất bị thu hồi còn có thể được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác hoặc bằng nhà ở. Như vậy, khi bồi thường bằng tiền, giá đất cụ thể là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để xác định số tiền bồi thường về đất. Giá này không đồng nhất với giá chuyển nhượng mà một cá nhân bất kỳ đang chào bán hoặc mức giá người dân mong muốn.
Ví dụ, gia đình ông A có 100 m² đất ở bị thu hồi để mở rộng đường giao thông. Gia đình cho rằng giá chuyển nhượng tại khu vực khoảng 50 triệu đồng/m², nhưng phương án bồi thường được lập theo mức giá đất cụ thể là 30 triệu đồng/m².
Trong trường hợp này, không thể chỉ căn cứ vào chênh lệch giữa hai mức giá để kết luận phương án bồi thường trái pháp luật. Cần kiểm tra việc xác định giá đất cụ thể có tuân thủ quy định về phương pháp định giá, thông tin đầu vào, vị trí đất, mục đích sử dụng và thẩm quyền quyết định hay không.
Nếu có căn cứ cho rằng việc xác định giá đất cụ thể không đúng quy định, người dân có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét lại. Ngược lại, nếu giá đất cụ thể đã được xác định đúng trình tự, phương pháp và căn cứ pháp luật, việc người dân cho rằng mức giá này thấp hơn kỳ vọng chưa đủ để đương nhiên làm phát sinh quyền được bồi thường theo mức giá do mình đề xuất. Vì vậy, muốn bảo vệ quyền lợi khi cho rằng giá bồi thường quá thấp, người dân cần tập trung kiểm tra căn cứ pháp lý của phương án bồi thường, thay vì chỉ so sánh với giá giao dịch bất động sản tại địa phương.
Vì sao cùng một tuyến đường nhưng các hộ gia đình có thể được bồi thường với mức giá khác nhau?
Một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến khiếu nại là các hộ gia đình có đất nằm trên cùng tuyến đường nhưng mức bồi thường trên mỗi mét vuông lại khác nhau. Nhiều người cho rằng tất cả các thửa đất nằm cạnh nhau hoặc cùng bị thu hồi để thực hiện một dự án phải được áp dụng mức giá bồi thường giống nhau. Tuy nhiên, việc xác định tiền bồi thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là loại đất, vị trí đất và tình trạng pháp lý của từng thửa đất.
Ví dụ, gia đình ông B có 80 m² đất ở được công nhận hợp pháp, trong khi gia đình ông C có 80 m² đất trồng cây lâu năm. Mặc dù hai thửa đất nằm cạnh nhau và cùng bị thu hồi để mở rộng đường, việc áp dụng giá đất để bồi thường có thể khác nhau do mục đích sử dụng đất được pháp luật công nhận không giống nhau.
Tương tự, hai thửa đất cùng là đất ở nhưng có vị trí, điều kiện tiếp cận đường giao thông hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất khác nhau cũng có thể dẫn đến việc xác định giá đất cụ thể khác nhau nếu có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, sự khác biệt này phải được giải thích bằng những căn cứ rõ ràng, không thể tùy tiện áp dụng các mức giá khác nhau cho những trường hợp có cùng điều kiện pháp lý và thực tế.
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là việc xác định loại đất được bồi thường. Trong thực tế, có trường hợp gia đình đã sử dụng đất làm nhà ở từ nhiều năm trước nhưng hồ sơ địa chính vẫn ghi là đất nông nghiệp. Khi thu hồi đất, cơ quan lập phương án bồi thường xác định toàn bộ diện tích theo loại đất nông nghiệp, khiến số tiền bồi thường thấp hơn nhiều so với mong muốn của người sử dụng đất. Đối với trường hợp này, cần kiểm tra nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng, hồ sơ địa chính và các căn cứ xác định loại đất theo pháp luật đất đai. Việc trên đất có nhà ở không đương nhiên làm cho toàn bộ diện tích trở thành đất ở, nhưng thông tin ghi trong một tài liệu địa chính cũng không phải lúc nào đã phản ánh đầy đủ nguồn gốc và tình trạng pháp lý của thửa đất.
Ví dụ, gia đình bà D có 200 m² đất sử dụng từ năm 1990, trong đó có nhà ở và sân vườn. Khi thực hiện dự án mở rộng đường, phương án bồi thường chỉ xác định 80 m² là đất ở, phần còn lại là đất nông nghiệp. Nếu gia đình cho rằng diện tích đất ở được xác định chưa đúng, cần kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, tài liệu kê khai đất đai, nguồn gốc và quá trình sử dụng để xác định có căn cứ đề nghị xem xét lại loại đất hoặc diện tích đất ở được công nhận hay không. Như vậy, việc so sánh mức bồi thường giữa các hộ gia đình chỉ có ý nghĩa khi đã xác định được những điều kiện tương đồng về loại đất, vị trí, nguồn gốc và căn cứ pháp lý áp dụng.
Phương án bồi thường không đúng diện tích, loại đất hoặc vị trí đất: Người dân có quyền yêu cầu điều chỉnh không?
Không ít trường hợp người dân cho rằng giá bồi thường thấp nhưng nguyên nhân thực sự lại nằm ở việc cơ quan lập phương án xác định chưa chính xác diện tích, loại đất hoặc vị trí thửa đất bị thu hồi. Đây là những thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền bồi thường. Nếu việc xác định không đúng căn cứ pháp luật, người có đất bị thu hồi có thể đề nghị kiểm tra, xác minh và xem xét điều chỉnh phương án theo trình tự tương ứng.
Ví dụ, Giấy chứng nhận của gia đình ông E thể hiện diện tích đất ở là 150 m². Tuy nhiên, phương án bồi thường chỉ ghi nhận 120 m² đất ở và 30 m² đất trồng cây lâu năm. Nếu không có căn cứ pháp lý giải thích sự khác biệt này, gia đình cần đề nghị đối chiếu hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, kết quả kiểm kê và tài liệu xác định loại đất.
Một tình huống khác là diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên Giấy chứng nhận. Khi đó, không thể mặc nhiên kết luận toàn bộ diện tích tăng thêm đều được bồi thường, nhưng cũng không thể tự động loại trừ phần diện tích chênh lệch. Theo Nghị định 88/2024/NĐ-CP, việc bồi thường trong trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác diện tích ghi trên Giấy chứng nhận phải được xem xét theo nguồn gốc, nguyên nhân chênh lệch, ranh giới và những điều kiện cụ thể.
Ví dụ, thửa đất có diện tích 200 m² trên Giấy chứng nhận nhưng khi đo đạc phục vụ giải phóng mặt bằng lại xác định diện tích thực tế là 215 m². Nếu phần diện tích chênh lệch phát sinh do sai số đo đạc, ranh giới sử dụng ổn định và đáp ứng điều kiện luật định thì việc giải quyết sẽ khác với trường hợp 15 m² tăng thêm do lấn chiếm đất công.
Đối với vị trí đất, người dân cũng cần kiểm tra căn cứ phân loại vị trí được áp dụng trong phương án bồi thường. Nếu thửa đất có mặt tiếp giáp đường giao thông nhưng phương án xác định theo vị trí khác, cần đối chiếu quy định và dữ liệu định giá áp dụng đối với dự án. Tuy nhiên, không phải cứ đất nằm gần đường lớn thì đương nhiên phải được áp dụng mức giá cao nhất. Việc xác định vị trí, điều kiện tiếp cận giao thông và các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất phải tuân thủ quy định về định giá đất. Vì vậy, trước khi yêu cầu nâng giá bồi thường, người dân cần kiểm tra ba nội dung quan trọng: diện tích được bồi thường, loại đất được công nhận và căn cứ xác định vị trí đất. Nếu một trong những yếu tố này bị xác định sai, việc điều chỉnh có thể làm thay đổi đáng kể số tiền bồi thường mà người dân được nhận.
Ngoài tiền bồi thường về đất, người dân còn được bồi thường và hỗ trợ những khoản nào?
Một sai lầm phổ biến khi xem xét phương án giải phóng mặt bằng là người dân chỉ tập trung vào đơn giá bồi thường đất mà bỏ qua những khoản bồi thường, hỗ trợ khác. Trên thực tế, tổng số tiền người có đất bị thu hồi được nhận có thể bao gồm tiền bồi thường về đất, bồi thường thiệt hại đối với tài sản gắn liền với đất và những khoản hỗ trợ theo quy định. Đối với nhà ở, công trình xây dựng bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất, cần xác định loại công trình, tình trạng pháp lý, mức độ thiệt hại và điều kiện được bồi thường.
Ví dụ, gia đình ông F có nhà ở hai tầng nằm trên diện tích đất bị thu hồi để mở rộng đường. Nếu nhà ở thuộc trường hợp đủ điều kiện được bồi thường và phải phá dỡ toàn bộ, việc bồi thường phải được xem xét theo quy định về thiệt hại đối với nhà ở, công trình xây dựng.
Nếu chỉ một phần công trình bị phá dỡ, cần đánh giá mức độ ảnh hưởng đến khả năng sử dụng và sự an toàn của phần công trình còn lại. Không thể chỉ dựa vào diện tích xây dựng bị thu hồi mà bỏ qua những thiệt hại khác thuộc phạm vi được bồi thường theo pháp luật.
Đối với cây trồng, vật nuôi và tài sản khác, việc bồi thường phải căn cứ vào loại tài sản, tình trạng thực tế và các điều kiện luật định. Ngoài ra, người có đất bị thu hồi có thể được xem xét những khoản hỗ trợ như hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ di chuyển hoặc tái định cư tùy từng trường hợp. Theo Nghị định 88/2024/NĐ-CP, phương án bồi thường chi tiết phải thể hiện những thông tin về loại tài sản, số lượng, khối lượng, giá tính bồi thường và các khoản hỗ trợ tương ứng.
Ví dụ, gia đình bà G bị thu hồi đất nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất. Nếu chỉ kiểm tra tiền bồi thường về đất mà không xem xét điều kiện hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm thì có thể bỏ sót quyền lợi được pháp luật quy định.
Tương tự, hộ gia đình phải di chuyển chỗ ở cần được xem xét điều kiện bố trí tái định cư và các khoản hỗ trợ liên quan. Không phải mọi trường hợp bị thu hồi một phần đất ở đều được bố trí tái định cư, nhưng nếu đáp ứng điều kiện luật định thì quyền lợi này phải được giải quyết theo đúng quy định. Đặc biệt, việc xác định có được bồi thường đối với nhà ở, công trình xây dựng hoặc cây trồng hay không còn phụ thuộc vào thời điểm tạo lập tài sản và tình trạng pháp lý của tài sản. Người dân không nên tự ý xây dựng thêm công trình hoặc trồng cây sau thời điểm pháp luật không cho phép nhằm tăng tiền bồi thường. Vì vậy, khi nhận phương án giải phóng mặt bằng, người dân cần xem xét tổng thể các khoản bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thay vì chỉ quan tâm đến đơn giá đất.
Người dân có quyền tham gia ý kiến về phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng không?
Một trong những quyền quan trọng của người có đất bị thu hồi là được tiếp cận thông tin và tham gia ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật. Theo Điều 87 Luật Đất đai 2024, việc lập, lấy ý kiến và hoàn thiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được thực hiện theo trình tự luật định. Đây là cơ chế để người có đất bị thu hồi phản ánh những nội dung chưa phù hợp trước khi phương án được phê duyệt. Việc lấy ý kiến không chỉ mang tính hình thức mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm tra diện tích đất, nguồn gốc sử dụng, tài sản bị ảnh hưởng và những khoản bồi thường, hỗ trợ dự kiến.
Ví dụ, gia đình ông H nhận được dự thảo phương án bồi thường, trong đó xác định diện tích đất bị thu hồi là 90 m². Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc mà gia đình đang lưu giữ, diện tích đất nằm trong phạm vi thu hồi là 110 m².
Trong trường hợp này, gia đình cần phản ánh sự khác biệt, đề nghị kiểm tra lại kết quả đo đạc và cung cấp tài liệu chứng minh. Nếu chờ đến khi phương án được phê duyệt mới đưa ra ý kiến, việc giải quyết có thể mất nhiều thời gian hơn. Tương tự, nếu dự thảo phương án chưa ghi nhận nhà ở, công trình phụ trợ, cây trồng hoặc những khoản hỗ trợ mà gia đình cho rằng mình đủ điều kiện được hưởng, người dân nên có ý kiến cụ thể đối với từng nội dung. Đặc biệt, việc góp ý cần được thực hiện bằng văn bản và có tài liệu kèm theo. Một ý kiến chỉ thể hiện rằng “giá bồi thường quá thấp” thường chưa đủ để làm rõ nội dung cần kiểm tra. Thay vào đó, người dân nên chỉ ra căn cứ xác định loại đất chưa đúng, diện tích kiểm kê bị thiếu, vị trí đất chưa phù hợp hoặc tài sản chưa được tính bồi thường.
Theo trình tự tại Điều 87, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai, tổ chức lấy ý kiến, tiếp thu và giải trình theo quy định. Đối với những ý kiến không đồng ý, cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường có trách nhiệm thực hiện các bước đối thoại, hoàn thiện phương án theo trình tự pháp luật. Tuy nhiên, quyền tham gia ý kiến không đồng nghĩa người dân có quyền quyết định đơn giá bồi thường hoặc phủ quyết phương án chỉ vì không đồng ý với số tiền được đề xuất. Việc phê duyệt phương án vẫn thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước theo quy định. Nếu phương án được ban hành nhưng người dân cho rằng có nội dung trái pháp luật, người dân có thể tiếp tục sử dụng các biện pháp pháp lý phù hợp. Do đó, giai đoạn công khai và lấy ý kiến về phương án bồi thường là thời điểm quan trọng để người dân chủ động bảo vệ quyền lợi. Việc kiểm tra kỹ hồ sơ và phản ánh sai sót ngay từ giai đoạn này có thể hạn chế những tranh chấp kéo dài về sau.
Không đồng ý với giá bồi thường thì người dân có được từ chối nhận tiền và không bàn giao đất không?
Trong thực tế, khi không đồng ý với mức bồi thường, nhiều hộ gia đình lựa chọn không nhận tiền, không ký vào hồ sơ hoặc không bàn giao mặt bằng với mong muốn cơ quan nhà nước phải điều chỉnh giá bồi thường. Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng việc không đồng ý với phương án bồi thường không đương nhiên làm mất hiệu lực của quyết định thu hồi đất hoặc quyết định phê duyệt phương án đã được ban hành hợp pháp.
Người dân có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện không đồng nghĩa mọi quyết định liên quan đến thu hồi đất đều tự động bị tạm dừng thi hành.
Ví dụ, gia đình ông K bị thu hồi 120 m² đất để thực hiện dự án đường giao thông. Phương án bồi thường đã được phê duyệt nhưng gia đình cho rằng giá đất được áp dụng không đúng vị trí thực tế.
Trong trường hợp này, gia đình có thể đề nghị xem xét lại căn cứ xác định giá đất, thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện nếu có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, việc từ chối nhận tiền không đương nhiên buộc cơ quan nhà nước phải hủy phương án bồi thường. Đặc biệt, người dân cần phân biệt việc không đồng ý với số tiền bồi thường và việc phản đối tính hợp pháp của quyết định thu hồi đất. Có trường hợp quyết định thu hồi đất được ban hành đúng thẩm quyền, đúng căn cứ pháp luật nhưng phương án bồi thường có sai sót về diện tích hoặc tài sản. Khi đó, yêu cầu pháp lý cần tập trung vào nội dung bồi thường chưa đúng. Ngược lại, nếu có căn cứ cho rằng quyết định thu hồi đất được ban hành không đúng thẩm quyền, không đáp ứng điều kiện thu hồi hoặc vi phạm nghiêm trọng trình tự pháp luật, người dân có thể xem xét yêu cầu đối với chính quyết định thu hồi đất.
Việc xác định đúng quyết định bị khiếu nại hoặc khởi kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu chỉ yêu cầu nâng giá bồi thường trong khi nguyên nhân thực sự là xác định sai loại đất, người dân có thể chưa bảo vệ được đầy đủ quyền lợi của mình. Ngoài ra, cần lưu ý rằng pháp luật quy định các điều kiện, trình tự và thủ tục cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất. Nếu người có đất bị thu hồi không chấp hành quyết định hợp pháp và đáp ứng các điều kiện luật định, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét thực hiện cưỡng chế theo trình tự pháp luật. Tuy nhiên, không phải cứ người dân chưa bàn giao đất thì cơ quan nhà nước được phép cưỡng chế ngay. Việc cưỡng chế phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về quyết định thu hồi, vận động, thuyết phục, thông báo, thẩm quyền và những yêu cầu khác theo quy định. Vì vậy, khi không đồng ý với phương án bồi thường, người dân nên lựa chọn phương án pháp lý có căn cứ, tránh cho rằng việc không nhận tiền hoặc không bàn giao đất là biện pháp duy nhất để bảo vệ quyền lợi.
Khiếu nại hoặc khởi kiện phương án bồi thường giải phóng mặt bằng: Cần chuẩn bị những gì?
Khi cho rằng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có nội dung trái pháp luật, người dân cần xác định rõ sai sót và lựa chọn thủ tục bảo vệ quyền lợi phù hợp. Trước hết, cần kiểm tra các văn bản liên quan đến việc thu hồi đất, bao gồm thông báo thu hồi đất, biên bản kiểm kê, tài liệu xác định nguồn gốc đất, phương án bồi thường, quyết định phê duyệt phương án và quyết định thu hồi đất. Đặc biệt, cần đối chiếu những thông tin trong phương án bồi thường với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính, tài liệu đo đạc và hiện trạng sử dụng thực tế.
Ví dụ, gia đình bà M có Giấy chứng nhận thể hiện 180 m² đất ở, nhưng phương án bồi thường chỉ xác định 130 m² đất ở. Trong trường hợp này, cần làm rõ căn cứ pháp lý của việc xác định phần diện tích còn lại theo loại đất khác.
Nếu không có căn cứ phù hợp, gia đình có thể đề nghị xem xét lại nội dung xác định loại đất và số tiền bồi thường tương ứng.
Một trường hợp khác là phương án đã xác định đúng diện tích, loại đất nhưng áp dụng giá đất cụ thể mà người dân cho rằng chưa đúng quy định. Khi đó, cần nghiên cứu quyết định giá đất cụ thể, căn cứ xác định vị trí và những tài liệu liên quan đến việc tính tiền bồi thường. Tùy theo bản chất vụ việc, người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại theo Luật Khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính.
Tuy nhiên, không phải mọi tài liệu trong quá trình lập phương án bồi thường đều đương nhiên là đối tượng khởi kiện hành chính độc lập. Cần xác định chính xác quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đối với quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cần kiểm tra nội dung quyết định, người bị ảnh hưởng, thời điểm nhận hoặc biết được quyết định và những căn cứ pháp lý liên quan.
Về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định thời hiệu thông thường là 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu đã thực hiện thủ tục khiếu nại, việc xác định thời hiệu cần căn cứ vào các quy định tương ứng. Do đó, người dân không nên để vụ việc kéo dài quá lâu mới thực hiện thủ tục pháp lý, bởi thời hiệu là một trong những điều kiện quan trọng khi Tòa án xem xét việc khởi kiện.
Ngoài ra, khi xây dựng yêu cầu khởi kiện, cần xác định rõ nội dung đề nghị Tòa án xem xét. Tùy từng trường hợp, người khởi kiện có thể yêu cầu hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính trái pháp luật, buộc cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ theo quy định và những yêu cầu khác thuộc phạm vi giải quyết của Tòa án. Việc yêu cầu Tòa án trực tiếp ấn định một mức giá bồi thường theo mong muốn của người dân không phải lúc nào cũng phù hợp với phạm vi thẩm quyền xét xử hành chính. Vì vậy, cần xác định đúng sai phạm và hậu quả pháp lý cần được khắc phục. Một hồ sơ khiếu nại hoặc khởi kiện được chuẩn bị đầy đủ, có chứng cứ và yêu cầu cụ thể sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền đánh giá rõ hơn tính hợp pháp của việc thu hồi đất và phương án bồi thường.
Những sai lầm người dân thường mắc phải khi yêu cầu tăng tiền bồi thường giải phóng mặt bằng
Một trong những sai lầm phổ biến nhất là chỉ căn cứ vào giá chuyển nhượng đất trên thị trường để khẳng định phương án bồi thường trái pháp luật. Thực tế, giá chuyển nhượng có thể là nguồn thông tin cần xem xét trong quá trình định giá đất theo quy định, nhưng mức giá được rao bán hoặc giá giao dịch của một vài thửa đất không đương nhiên là đơn giá bồi thường bắt buộc phải áp dụng. Muốn chứng minh phương án bồi thường có sai sót, người dân cần làm rõ việc xác định giá đất cụ thể có tuân thủ đúng phương pháp, căn cứ và trình tự pháp luật hay không.
Sai lầm thứ hai là không kiểm tra nguồn gốc và loại đất được bồi thường.
Ví dụ, một hộ gia đình cho rằng toàn bộ 300 m² đất đang sử dụng đều là đất ở nhưng hồ sơ pháp lý chỉ công nhận một phần diện tích. Nếu không làm rõ điều kiện công nhận đất ở, việc yêu cầu bồi thường toàn bộ diện tích theo giá đất ở có thể không có đủ căn cứ. Ngược lại, nếu có tài liệu chứng minh diện tích đất ở được xác định chưa đúng, người dân cần tập trung bảo vệ nội dung này trước khi tính toán số tiền bồi thường.
Sai lầm thứ ba là bỏ qua các khoản bồi thường về tài sản và hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Có trường hợp gia đình chỉ tập trung tranh luận về giá đất nhưng không kiểm tra số lượng cây trồng, diện tích công trình bị ảnh hưởng, chi phí di chuyển hoặc điều kiện hỗ trợ tái định cư. Điều này có thể khiến người dân bỏ sót những quyền lợi cần được xem xét trong phương án bồi thường.
Sai lầm thứ tư là không tham gia ý kiến trong giai đoạn công khai dự thảo phương án bồi thường. Đây là giai đoạn người dân có thể đề nghị kiểm tra lại diện tích, nguồn gốc, tài sản và các nội dung dự kiến. Nếu không chủ động phản ánh những sai sót từ đầu, quá trình giải quyết sau khi phương án được phê duyệt có thể phức tạp hơn.
Sai lầm thứ năm là lựa chọn không đúng thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện. Ví dụ, người dân cho rằng mức bồi thường thấp vì cơ quan nhà nước xác định sai loại đất nhưng đơn khiếu nại chỉ yêu cầu tăng giá đất mà không chỉ rõ sai sót trong việc xác định loại đất. Trong trường hợp này, yêu cầu có thể chưa phản ánh đúng nguyên nhân làm ảnh hưởng đến quyền lợi.
Ngoài ra, người dân cần tránh tự ý xây dựng thêm công trình, trồng cây hoặc thay đổi hiện trạng đất sau thời điểm pháp luật không cho phép nhằm làm tăng giá trị bồi thường. Những hành vi này không đương nhiên được công nhận để tính bồi thường và có thể phát sinh hậu quả pháp lý khác. Vì vậy, muốn bảo vệ quyền lợi khi cho rằng mức bồi thường giải phóng mặt bằng quá thấp, người dân cần tiếp cận vụ việc trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ và quy định pháp luật, thay vì chỉ phản đối mức tiền được đưa ra.
Giá bồi thường thấp không đồng nghĩa phương án bồi thường trái pháp luật
Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án giao thông, người dân có quyền được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nếu đáp ứng những điều kiện luật định. Tuy nhiên, không phải cứ giá bồi thường thấp hơn giá giao dịch trên thị trường thì đương nhiên có căn cứ yêu cầu hủy phương án bồi thường hoặc buộc cơ quan nhà nước áp dụng mức giá cao hơn. Điều quan trọng là phải xác định việc bồi thường đã đúng diện tích, loại đất, vị trí, giá đất cụ thể và những quy định pháp luật liên quan hay chưa.
Đặc biệt, người dân cần kiểm tra đầy đủ những khoản bồi thường đối với nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng và các khoản hỗ trợ, tái định cư có thể được hưởng. Nếu phát hiện phương án bồi thường có sai sót, người dân có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét điều chỉnh hoặc thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định. Việc chuẩn bị chứng cứ đầy đủ, xác định đúng nội dung vi phạm và lựa chọn thủ tục pháp lý phù hợp là những yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất.
Thông tin liên hệ
Văn phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
