Trong thực tế, nhiều gia đình có hai hoặc nhiều thửa đất liền kề và muốn hợp lại thành một thửa để thuận tiện xây nhà, chuyển nhượng, tặng cho con hoặc quản lý sử dụng. Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp khi một trong những thửa đất đang phát sinh tranh chấp với hàng xóm, người thân hoặc người cùng sử dụng đất. Khi đó, câu hỏi thường được đặt ra là: đất đang tranh chấp có được hợp thửa không? Chỉ một phần nhỏ diện tích có tranh chấp thì có phải dừng toàn bộ thủ tục? Nếu hàng xóm chỉ gửi đơn tranh chấp nhằm ngăn cản việc hợp thửa thì cơ quan đăng ký đất đai xử lý như thế nào?
Theo Luật Đất đai 2024, nguyên tắc chung là thửa đất thực hiện hợp thửa phải không có tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành có một điểm rất đáng chú ý: nếu đất có tranh chấp nhưng xác định được chính xác phạm vi diện tích, ranh giới đang tranh chấp thì phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp vẫn có thể được tách thửa, hợp thửa.
Do đó, không nên hiểu máy móc rằng chỉ cần xuất hiện bất kỳ đơn tranh chấp nào liên quan đến thửa đất thì toàn bộ thửa đất chắc chắn bị “đóng băng”. Muốn biết có thể hợp thửa hay không phải xác định rõ tranh chấp đang liên quan đến toàn bộ quyền sử dụng đất hay chỉ liên quan đến một phần diện tích, một đoạn ranh giới cụ thể.
Điều kiện quan trọng nhất: đất hợp thửa về nguyên tắc phải không có tranh chấp
Hợp thửa đất là việc kết hợp hai hoặc nhiều thửa đất thành một thửa đất mới. Đây không đơn thuần là việc người sử dụng đất tự gộp các mảnh đất trên thực tế mà là một thủ tục đăng ký đất đai làm thay đổi thông tin về thửa đất trong hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận.
Pháp luật hiện hành quy định trực tiếp điều kiện hợp thửa tại Điều 220 Luật Đất đai 2024 – Tách thửa đất, hợp thửa đất. Theo đó, việc tách thửa, hợp thửa phải đáp ứng các nguyên tắc và điều kiện, trong đó có yêu cầu thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận, còn thời hạn sử dụng đất, đất không có tranh chấp, không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định “đất không có tranh chấp” là hợp lý bởi khi quyền sử dụng đất hoặc ranh giới thửa đất còn chưa được xác định ổn định thì việc thay đổi hình thể, số thửa và hồ sơ địa chính có thể làm cho quá trình giải quyết tranh chấp phức tạp hơn. Ví dụ, A đang tranh chấp với B về 50 m² nằm ở ranh giới phía Đông của thửa 100 nhưng A lại đề nghị hợp thửa 100 với thửa 101. Nếu cứ tiến hành hợp thửa mà chưa xác định rõ 50 m² thuộc về ai thì thửa đất mới sẽ được hình thành trên cơ sở một ranh giới đang bị tranh chấp. Vì vậy, tình trạng tranh chấp là vấn đề phải được kiểm tra trước khi thực hiện thủ tục.
Đất đang tranh chấp không phải trong mọi trường hợp đều bị cấm hợp thửa toàn bộ
Đây là điểm rất đáng chú ý của Luật Đất đai 2024. Ngay tại khoản 1 Điều 220, sau khi quy định đất phải không có tranh chấp, pháp luật đồng thời dự liệu một ngoại lệ: trường hợp đất có tranh chấp nhưng xác định được phạm vi diện tích, ranh giới đang tranh chấp thì phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp của thửa đất đó được phép tách thửa, hợp thửa.
Ví dụ, ông A có thửa đất 1.000 m². Hộ liền kề chỉ tranh chấp một dải đất 20 m² chạy dọc ranh giới phía Tây. Nếu hồ sơ, kết quả đo đạc và các tài liệu liên quan cho phép xác định cụ thể phần 20 m² đang tranh chấp thì không nên hiểu rằng toàn bộ 1.000 m² đều trở thành diện tích tranh chấp. Theo quy định nêu trên, phần diện tích và ranh giới còn lại không tranh chấp có thể được xem xét thực hiện tách thửa, hợp thửa nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện khác của pháp luật.
Ngược lại, nếu tranh chấp liên quan đến toàn bộ quyền sử dụng đất, chẳng hạn A đứng tên Giấy chứng nhận nhưng B khởi kiện yêu cầu công nhận toàn bộ thửa đất là di sản thừa kế của cha mẹ để lại; hoặc các bên tranh chấp ai mới là người có quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất, thì rất khó tách phần “không tranh chấp” để tiếp tục hợp thửa. Khi đó, chính quyền sử dụng đối với thửa đất là đối tượng cần được giải quyết trước.
Tranh chấp ranh giới với hàng xóm thì có hợp thửa được không?
Tranh chấp ranh giới là trường hợp cần đặc biệt phân tích theo phạm vi. Không phải cứ hàng xóm cho rằng “nhà anh lấn đất nhà tôi” thì toàn bộ thửa đất của hai bên đều trở thành đất tranh chấp. Vấn đề phải xác định là phần ranh giới nào đang bị phản đối, diện tích cụ thể bao nhiêu và có thể xác định được trên thực địa cũng như hồ sơ địa chính hay không.
Giả sử gia đình A có hai thửa đất liền nhau là thửa 120 và 121 và muốn hợp thành một thửa. Thửa 121 có một đoạn ranh giới dài 10 mét giáp đất B. B cho rằng hàng rào của A lấn sang đất B khoảng 0,5 mét. Nếu xác định được chính xác dải diện tích đang tranh chấp thì phần đó cần được xử lý theo tình trạng tranh chấp; còn đối với phần diện tích, ranh giới không tranh chấp, khoản 1 Điều 220 Luật Đất đai 2024 đã mở cơ chế để được xem xét tách, hợp thửa. Tuy nhiên, phương án kỹ thuật cụ thể còn phải bảo đảm việc hình thành thửa đất phù hợp với các điều kiện khác của Điều 220 và quy định có liên quan.
Trong trường hợp ranh giới chưa thể xác định, mỗi bên chỉ một vị trí khác nhau hoặc diện tích tranh chấp thay đổi theo lời trình bày của từng bên thì trước hết nên thực hiện đo đạc, thu thập hồ sơ địa chính và làm rõ phạm vi tranh chấp. Nếu chưa xác định được đâu là phần tranh chấp và đâu là phần không tranh chấp thì cơ sở để áp dụng ngoại lệ tại Điều 220 cũng chưa rõ ràng.
Chỉ có đơn tranh chấp của hàng xóm thì đất đã được coi là “đang tranh chấp” chưa?
Đây là tình huống xảy ra khá nhiều trong thực tế. Một người chuẩn bị hợp thửa, tách thửa hoặc chuyển nhượng đất thì hàng xóm gửi đơn đến UBND cấp xã hoặc cơ quan đăng ký đất đai với nội dung cho rằng có tranh chấp. Chủ đất lập tức đặt câu hỏi: chỉ cần một lá đơn là toàn bộ thủ tục của tôi phải dừng hay sao?
Luật Đất đai 2024 xác định tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Vì vậy, khi có đơn, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét bản chất nội dung phản ánh và tình trạng thực tế của thửa đất. Không nên đồng nhất một cách máy móc mọi đơn kiến nghị, phản ánh hoặc khiếu nại với một tranh chấp đất đai có phạm vi bao trùm toàn bộ thửa đất.
Ví dụ, hàng xóm chỉ phản ánh việc nước mưa từ mái nhà chảy sang đất mình thì nội dung đó chưa chắc là tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngược lại, nếu người đó xác định rõ “50 m² đang nằm trong Giấy chứng nhận của A thực tế thuộc quyền sử dụng của gia đình tôi” thì đã xuất hiện sự bất đồng trực tiếp về quyền sử dụng đối với một phần đất. Vì vậy, khi thủ tục hợp thửa bị ảnh hưởng vì có đơn tranh chấp, người sử dụng đất nên yêu cầu làm rõ nội dung tranh chấp, phạm vi diện tích tranh chấp và căn cứ xác định tình trạng đó, thay vì chỉ dừng ở thông tin chung chung rằng “đất đang có đơn”.
Một trong hai thửa muốn hợp đang tranh chấp thì xử lý thế nào?
Giả sử A có thửa 100 diện tích 200 m² và thửa 101 diện tích 150 m² nằm liền kề. A muốn hợp hai thửa thành một thửa 350 m². Thửa 100 hoàn toàn ổn định nhưng thửa 101 đang có tranh chấp với người khác. Có thể cho rằng thửa 100 không tranh chấp nên cứ hợp trước hay không?
Cần lưu ý rằng khi đề nghị hợp thửa, các thửa đất tham gia thủ tục đều phải được kiểm tra điều kiện theo Điều 220. Nếu tranh chấp liên quan đến toàn bộ thửa 101 thì việc đưa toàn bộ thửa này vào một thửa đất mới sẽ không đáp ứng điều kiện đất không có tranh chấp. Việc thửa 100 hoàn toàn sạch về pháp lý không tự động khắc phục tình trạng tranh chấp của thửa 101.
Tuy nhiên, nếu tranh chấp của thửa 101 chỉ nằm ở một phần xác định được thì phải quay lại ngoại lệ của Điều 220: phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp được phép tách, hợp thửa nếu đáp ứng các điều kiện tương ứng. Đây chính là lý do trước khi kết luận “không thể hợp thửa”, cần xác định chính xác đối tượng và phạm vi tranh chấp.
Đất đã hòa giải tranh chấp thành rồi thì có được hợp thửa ngay không?
Việc hai bên đã hòa giải thành là một bước rất quan trọng nhưng không phải lúc nào cũng có thể ngay lập tức cầm biên bản hòa giải đi thực hiện hợp thửa. Cần xem nội dung hòa giải đã xác định lại ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất như thế nào và kết quả đó có làm phát sinh việc đăng ký biến động hay điều chỉnh hồ sơ địa chính hay không.
Theo Điều 235 Luật Đất đai 2024 – Hòa giải tranh chấp đất đai, Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải và trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Điều 236, các bên phải thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Điều 235 đồng thời quy định cách xử lý kết quả hòa giải, trong đó trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất thì các bên thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận theo quy định.
Do đó, nếu hòa giải thành làm thay đổi ranh giới từ 300 m² xuống 285 m² thì trước khi hợp thửa phải xử lý đúng kết quả hòa giải và cập nhật tình trạng pháp lý cần thiết. Mục tiêu là bảo đảm tại thời điểm hợp thửa, diện tích và ranh giới được sử dụng để hình thành thửa mới đã rõ ràng và phù hợp với hồ sơ pháp lý.
Đất đang được Tòa án giải quyết tranh chấp thì có hợp thửa được không?
Nếu vụ án đang được Tòa án giải quyết và đối tượng tranh chấp liên quan trực tiếp đến toàn bộ thửa đất dự kiến hợp thửa thì về nguyên tắc điều kiện “đất không có tranh chấp” chưa được đáp ứng. Trong trường hợp đó, người đứng tên Giấy chứng nhận không thể chỉ dựa vào việc mình hiện vẫn là người có tên trên sổ để cho rằng mình có toàn quyền thay đổi tình trạng pháp lý của thửa đất.
Đối với tranh chấp mà các bên hoặc một trong các bên có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ theo luật định, Điều 236 Luật Đất đai 2024 – Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai xác định tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi bản án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đã có hiệu lực, quyền sử dụng đất được xác định rõ và hồ sơ đất đai được cập nhật tương ứng thì người có quyền mới tiếp tục xem xét việc hợp thửa trên cơ sở tình trạng pháp lý đã được xác lập.
Ngoài ra, cần đặc biệt kiểm tra xem Tòa án có đang áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến tài sản hay không. Điều 220 không chỉ yêu cầu đất không có tranh chấp mà còn yêu cầu đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án và không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền. Đây là những điều kiện độc lập cần được kiểm tra.
Đã có bản án giải quyết tranh chấp nhưng chưa sang tên theo bản án thì có hợp thửa được không?
Giả sử A và B tranh chấp ranh giới trong nhiều năm. Sau đó Tòa án tuyên bản án có hiệu lực xác định phần đất tranh chấp thuộc A. Về nội dung, tranh chấp đã được giải quyết. Tuy nhiên, thông tin trên Giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính vẫn chưa được cập nhật theo bản án. A muốn ngay lập tức hợp phần đất đó với thửa liền kề.
Trong tình huống này, nên hoàn tất các thủ tục cần thiết để hồ sơ địa chính phản ánh đúng kết quả giải quyết tranh chấp trước khi tiến hành hợp thửa. Hợp thửa phải dựa trên những thửa đất có vị trí, diện tích, ranh giới và quyền sử dụng đã được xác định rõ. Nếu bản án làm thay đổi diện tích, ranh giới hoặc chủ thể sử dụng nhưng hồ sơ đất đai chưa được chỉnh lý thì thực hiện hợp thửa ngay có thể phát sinh vướng mắc giữa hiện trạng pháp lý theo bản án và dữ liệu đăng ký.
Cách xử lý an toàn là kiểm tra hiệu lực của bản án, quyết định; thực hiện đăng ký biến động theo kết quả giải quyết tranh chấp; xác định lại thông tin thửa đất; sau đó mới chuẩn bị hồ sơ hợp thửa. Làm theo đúng trình tự sẽ hạn chế việc hồ sơ phải bổ sung hoặc xử lý lại nhiều lần.
Có sổ đỏ rồi nhưng đang tranh chấp thì có được lấy lý do “tôi là người đứng tên” để hợp thửa không?
Không nên hiểu Giấy chứng nhận theo hướng đó. Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý quan trọng xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền, nhưng việc đang đứng tên Giấy chứng nhận không làm mất đi thực tế rằng quyền hoặc ranh giới đất có thể đang là đối tượng của một tranh chấp cần được giải quyết.
Ví dụ, A đứng tên Giấy chứng nhận 500 m² nhưng B cho rằng 100 m² trong đó thuộc di sản của cha mẹ và yêu cầu chia thừa kế. Hoặc A đứng tên 300 m² nhưng hộ liền kề cho rằng 20 m² trong sổ của A bị cấp chồng sang đất mình. Trong cả hai trường hợp, việc A có Giấy chứng nhận là chứng cứ pháp lý rất quan trọng nhưng không phải căn cứ để bỏ qua tình trạng tranh chấp khi thực hiện hợp thửa.
Điểm cần làm rõ vẫn là phạm vi tranh chấp. Nếu tranh chấp bao trùm toàn bộ quyền sử dụng đất thì phải giải quyết quyền trước. Nếu chỉ tranh chấp một phần xác định được thì có thể xem xét cơ chế dành cho phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp theo Điều 220.
Điều kiện hợp thửa không chỉ có vấn đề “đang tranh chấp hay không”
Ngay cả khi đất hoàn toàn không có tranh chấp, người sử dụng đất cũng không nên hiểu rằng hồ sơ hợp thửa chắc chắn được chấp nhận. Điều 220 Luật Đất đai 2024 còn đặt ra nhiều điều kiện khác. Chẳng hạn, các thửa đất sau khi hợp thửa phải bảo đảm có cùng mục đích sử dụng đất, cùng thời hạn sử dụng đất và cùng hình thức trả tiền thuê đất, trừ những trường hợp pháp luật cho phép thực hiện đồng thời thủ tục chuyển mục đích, điều chỉnh thời hạn hoặc hình thức sử dụng để thống nhất.
Ngoài ra, việc hợp thửa phải bảo đảm các thửa đất có chung ranh giới liền kề. Không thể có hai thửa nằm ở hai vị trí hoàn toàn tách biệt rồi yêu cầu cơ quan đăng ký “gộp số liệu” thành một thửa. Điều này xuất phát từ chính bản chất của thửa đất là một phần diện tích được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trong hồ sơ.
Vì vậy, khi kiểm tra khả năng hợp thửa, nên kiểm tra đồng thời tình trạng Giấy chứng nhận, thời hạn sử dụng, tranh chấp, kê biên, biện pháp khẩn cấp tạm thời, vị trí liền kề, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng và hình thức sử dụng đất. Chỉ tập trung vào một điều kiện “không tranh chấp” có thể khiến người sử dụng đất bỏ sót các vướng mắc khác.
Đất đang tranh chấp có được bán, tặng cho trước rồi người nhận mới hợp thửa không?
Một số người nghĩ rằng nếu đang tranh chấp nên chưa hợp thửa được thì có thể chuyển nhượng hoặc tặng cho trước, sau đó người nhận sẽ đứng ra giải quyết và hợp thửa. Cách xử lý này có thể gặp ngay một trở ngại khác của Luật Đất đai.
Điều 45 Luật Đất đai 2024 – Điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất quy định người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi đáp ứng các điều kiện luật định, trong đó có điều kiện đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết có hiệu lực pháp luật theo quy định.
Do đó, việc đất đang tranh chấp không chỉ có thể ảnh hưởng đến hợp thửa mà còn ảnh hưởng đến nhiều giao dịch khác liên quan đến quyền sử dụng đất. Không nên tìm cách “đi vòng” bằng một giao dịch chuyển nhượng hoặc tặng cho nếu chính điều kiện pháp lý để thực hiện giao dịch chưa được đáp ứng.
Nếu người khác cố tình tạo tranh chấp để ngăn mình hợp thửa thì phải làm sao?
Đây là tình huống thực tế rất đáng lưu ý. Không phải mọi tranh chấp đều có căn cứ. Có trường hợp hàng xóm biết chủ đất chuẩn bị bán, tách hoặc hợp thửa nên gửi đơn cho rằng có tranh chấp nhằm kéo dài thủ tục. Nếu rơi vào trường hợp này, chủ đất không nên chỉ liên tục nộp lại hồ sơ hợp thửa mà cần xử lý trực tiếp vấn đề đang khiến hồ sơ bị vướng.
Trước hết cần yêu cầu xác định cụ thể người kia đang tranh chấp vấn đề gì: tranh chấp toàn bộ quyền sử dụng đất, một phần diện tích, ranh giới, lối đi hay tài sản trên đất? Phần đất được cho là tranh chấp nằm ở đâu và diện tích bao nhiêu? Sau đó đối chiếu Giấy chứng nhận, hồ sơ cấp sổ, bản đồ địa chính, trích đo, mốc giới thực tế và các tài liệu về quá trình sử dụng. Nếu có thể xác định chính xác phần diện tích tranh chấp thì cần lưu ý cơ chế tại Điều 220 cho phép phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp được tách, hợp thửa.
Nếu tranh chấp thực sự tồn tại và không thể tự giải quyết thì nên thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp theo đúng trình tự thay vì để tình trạng này kéo dài. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một căn cứ pháp lý rõ ràng xác định ai có quyền sử dụng đất và ranh giới nằm ở đâu.
Muốn hợp thửa khi có tranh chấp, nên chuẩn bị và kiểm tra những gì?
Trước hết cần kiểm tra toàn bộ Giấy chứng nhận của các thửa dự kiến hợp. Đặc biệt chú ý số thửa, tờ bản đồ, diện tích, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng và sơ đồ thửa đất. Sau đó đối chiếu với hiện trạng để xác định có sự khác biệt về diện tích, mốc giới hay không.
Nếu có tranh chấp, việc quan trọng nhất là xác định phạm vi tranh chấp. Nên thu thập đơn tranh chấp, biên bản hòa giải, biên bản làm việc tại UBND, trích đo địa chính, bản đồ qua các thời kỳ, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và những tài liệu thể hiện quá trình quản lý, sử dụng đất. Nếu vụ việc đã được giải quyết thì cần có quyết định, bản án hoặc văn bản có hiệu lực và kiểm tra xem hồ sơ địa chính đã được cập nhật theo kết quả đó chưa.
Đặc biệt, khi chỉ có một phần nhỏ diện tích tranh chấp, đừng mặc nhiên cho rằng toàn bộ thửa đất không thể thực hiện bất cứ thủ tục nào. Khoản 1 Điều 220 Luật Đất đai 2024 đã quy định rõ trường hợp xác định được phạm vi diện tích, ranh giới tranh chấp thì phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp được phép tách, hợp thửa. Đây là điểm pháp lý rất quan trọng cần được viện dẫn khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
Đất đang tranh chấp có hợp thửa được không?
Câu trả lời chính xác là: về nguyên tắc, đất thực hiện hợp thửa phải không có tranh chấp. Tuy nhiên, không phải cứ một thửa đất có tranh chấp là toàn bộ diện tích của thửa đất đó tuyệt đối không thể được xem xét hợp thửa.
Luật Đất đai 2024 đã quy định rõ một ngoại lệ quan trọng: nếu đất có tranh chấp nhưng xác định được phạm vi diện tích, ranh giới đang tranh chấp thì phần diện tích, ranh giới còn lại không tranh chấp được phép tách thửa, hợp thửa. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất là xác định tranh chấp đang liên quan đến toàn bộ thửa đất hay chỉ một phần cụ thể.
Nếu tranh chấp liên quan đến toàn bộ quyền sử dụng đất thì trước hết cần giải quyết tranh chấp và hoàn thiện việc đăng ký, cập nhật hồ sơ đất đai theo kết quả giải quyết. Nếu chỉ tranh chấp một đoạn ranh giới hoặc một phần diện tích xác định được, người sử dụng đất nên kiểm tra khả năng áp dụng ngoại lệ tại Điều 220 thay vì mặc nhiên chấp nhận rằng toàn bộ thủ tục phải dừng.
Đối với tranh chấp đất đai, một bước đi đúng ngay từ đầu rất quan trọng: xác định đúng đối tượng tranh chấp – xác định đúng phạm vi tranh chấp – kiểm tra hồ sơ địa chính – giải quyết phần quyền còn bất đồng – sau đó mới thực hiện hợp thửa. Việc cố gắng hợp thửa khi quyền sử dụng đất và ranh giới vẫn chưa rõ ràng không chỉ khiến hồ sơ bị vướng mà còn có thể làm tranh chấp phức tạp hơn.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
