Trong thực tế, rất nhiều người sau khi xảy ra một sự việc mới bắt đầu lo lắng: “Việc mình làm có phạm tội không?”, “Nếu phạm tội thì là tội gì?”, “Công an đang xác minh thì có phải mình đã phạm tội?”, hoặc “Cùng một hành vi nhưng tại sao có người bị xử lý hình sự, có người chỉ bị phạt hành chính?”. Những câu hỏi này thường xuất hiện trong các vụ đánh nhau, vay tiền không trả, nhận tiền đặt cọc, giữ tài sản của người khác, chuyển tiền hộ, cho mượn tài khoản ngân hàng, vận chuyển hàng hóa, đứng tên công ty, mua bán đất, tham gia đầu tư hoặc thực hiện một công việc theo yêu cầu của người khác.
Muốn xác định một người có phạm tội hay không và nếu có thì phạm tội gì, không thể chỉ nhìn vào hậu quả hoặc tên gọi thông thường của hành vi. Phải đối chiếu toàn bộ diễn biến thực tế với các dấu hiệu pháp lý của tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Một người “cầm tiền của người khác” chưa chắc đã lừa đảo; người “không trả được nợ” chưa chắc đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; người “đi cùng” người phạm tội chưa chắc là đồng phạm; người gây thương tích cũng chưa chắc phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng.
Dưới đây là cách tiếp cận tương đối đầy đủ để một người bước đầu nhận diện rủi ro hình sự của hành vi mình đã thực hiện.
Muốn biết mình phạm tội gì, trước tiên phải xác định hành vi có phải là tội phạm hay không
Điểm xuất phát không phải là tìm ngay tên một tội danh có vẻ giống sự việc của mình, mà phải xác định hành vi đó có đạt đến mức bị pháp luật hình sự điều chỉnh hay không. Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ mà theo quy định của Bộ luật phải bị xử lý hình sự. Khoản 2 Điều này đồng thời xác định những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp khác.
Điều đó có nghĩa không phải cứ có thiệt hại, vi phạm pháp luật hoặc bị người khác tố cáo là đương nhiên phạm tội. Một hành vi có thể chỉ làm phát sinh trách nhiệm dân sự, xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm kỷ luật hoặc các hậu quả pháp lý khác. Chỉ khi hành vi thỏa mãn những dấu hiệu của một tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự thì mới đặt ra trách nhiệm hình sự. Đây cũng là lý do cùng là “không trả tiền” nhưng trường hợp này có thể chỉ là tranh chấp hợp đồng, trường hợp khác lại có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Vì vậy, câu hỏi đầu tiên nên đặt ra không phải là “tôi bị tố về tội gì?”, mà là: hành vi thực tế của tôi gồm những việc gì, xảy ra khi nào, đối với ai, hậu quả ra sao và có điều luật hình sự nào mô tả chính xác hành vi đó hay không?
Đừng xác định tội danh chỉ dựa vào tên gọi của hành vi
Sai lầm phổ biến là lấy cách gọi ngoài đời để tự suy ra tội danh. Ví dụ, thấy một người vay 500 triệu đồng rồi mất khả năng trả nợ thì cho rằng đó là “lừa đảo”; thấy một người có mặt tại hiện trường đánh nhau thì cho rằng người đó là “đồng phạm”; thấy một người giữ tiền của công ty thì gọi là “tham ô”. Trong pháp luật hình sự, tên gọi ngoài đời không quyết định tội danh.
Muốn xác định chính xác phải bóc tách hành vi theo các dấu hiệu cấu thành của tội phạm cụ thể. Về phương pháp phân tích pháp lý, thường phải làm rõ chủ thể thực hiện hành vi; quan hệ xã hội bị xâm phạm; hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả; đồng thời xác định yếu tố lỗi, mục đích hoặc động cơ trong những tội danh mà pháp luật yêu cầu. Bên cạnh đó còn phải kiểm tra tuổi chịu trách nhiệm hình sự, năng lực trách nhiệm hình sự và những điều kiện đặc biệt khác của từng tội.
Ví dụ A vay B 500 triệu đồng, đến hạn nhưng việc kinh doanh thua lỗ nên chưa có khả năng thanh toán. Chỉ riêng việc “vay tiền rồi chưa trả” chưa đủ để kết luận A phạm tội. Nhưng nếu trước khi nhận tiền A đã dựng lên dự án không có thật, đưa thông tin gian dối làm B tin tưởng giao 500 triệu đồng và mục đích thực tế là chiếm đoạt thì bản chất pháp lý hoàn toàn khác. Vì vậy, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối và ý thức chiếm đoạt có thể trở thành yếu tố quyết định việc phân biệt tranh chấp dân sự với trách nhiệm hình sự.
Phải xác định chính xác mình đã làm gì, không chỉ nhìn vào hậu quả cuối cùng
Khi tự đánh giá rủi ro hình sự, nên dựng lại toàn bộ sự việc theo trình tự thời gian. Ai là người đề xuất đầu tiên? Các bên đã trao đổi điều gì? Người thực hiện biết những thông tin nào? Tiền hoặc tài sản được chuyển vào thời điểm nào? Sau khi nhận tài sản thì sử dụng vào mục đích gì? Có thỏa thuận hoàn trả không? Có che giấu thông tin, bỏ trốn, tiêu hủy tài liệu hay không? Nếu xảy ra đánh nhau thì ai tấn công trước, sử dụng công cụ gì, đánh vào vị trí nào, thương tích của từng người ra sao?
Cách dựng lại dòng thời gian đặc biệt quan trọng bởi nhiều tội danh có biểu hiện bên ngoài tương đối giống nhau nhưng khác nhau ở thời điểm hình thành ý định phạm tội. Một người gian dối ngay từ trước khi người khác giao tài sản có thể đặt ra vấn đề pháp lý khác với người ban đầu nhận tài sản hoàn toàn hợp pháp nhưng sau đó mới phát sinh hành vi nhằm chiếm đoạt. Tương tự, một người mang dao đến tìm nạn nhân từ trước sẽ được đánh giá khác với người trong lúc bị tấn công bất ngờ đã lấy một vật gần đó để chống trả.
Do đó, đừng bắt đầu bằng việc tìm “tội nào giống tôi nhất” trên mạng. Hãy bắt đầu bằng một bản tường trình trung thực về sự việc theo từng mốc thời gian. Khi các dữ kiện đã được sắp xếp đúng, việc đối chiếu tội danh mới có ý nghĩa.
Phải xem xét lỗi cố ý hay vô ý
Yếu tố nhận thức và ý chí của người thực hiện hành vi có ý nghĩa rất lớn. Theo Điều 10 Bộ luật Hình sự 2015 – Cố ý phạm tội, pháp luật phân biệt trường hợp người phạm tội nhận thức rõ tính nguy hiểm, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra với trường hợp tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Trong khi đó, Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015 – Vô ý phạm tội quy định các trường hợp vô ý do quá tự tin hoặc do cẩu thả theo các dấu hiệu cụ thể của điều luật.
Điểm này giải thích vì sao không thể chỉ nhìn hậu quả để xác định tội danh. Cùng gây ra cái chết của một người nhưng hành vi cố ý tước đoạt tính mạng, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người và vô ý làm chết người có thể thuộc những tội danh khác nhau. Muốn phân biệt phải xem xét công cụ, phương tiện, vị trí tác động, cường độ hành vi, diễn biến trước và sau sự việc, lời nói, mâu thuẫn, khả năng nhận thức hậu quả và hàng loạt chứng cứ khác.
Lỗi cũng không nên được xác định chỉ từ lời nói “tôi không cố ý”. Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá cả lời khai và chứng cứ khách quan. Ngược lại, cũng không thể chỉ vì hậu quả nghiêm trọng mà mặc nhiên suy luận người thực hiện mong muốn hậu quả đó xảy ra.
Kiểm tra tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự
Không phải mọi người thực hiện cùng một hành vi đều chịu trách nhiệm hình sự giống nhau. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 – Tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên về nguyên tắc phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội mà Bộ luật có quy định khác. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự được giới hạn đối với các tội phạm và điều luật mà khoản 2 Điều 12 quy định.
Ngoài tuổi, còn phải xem xét năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 – Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là vấn đề pháp lý cần được xác định theo căn cứ chuyên môn và thủ tục luật định, chứ không phải cứ có bệnh án tâm thần hoặc từng điều trị tâm lý là đương nhiên được loại trừ trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, trước khi tìm khung hình phạt, phải xác định người thực hiện có thuộc chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với chính tội danh đang xem xét hay không.
Phải kiểm tra tội danh đó có yêu cầu hậu quả, giá trị tài sản hoặc tỷ lệ thương tích hay không
Một sai lầm khác là chỉ nhìn vào hành vi mà bỏ qua các điều kiện định lượng. Mỗi tội danh được thiết kế khác nhau. Có tội danh đòi hỏi hậu quả hoặc giá trị tài sản đạt một mức nhất định; có tội vẫn có thể cấu thành dưới mức định lượng nếu xuất hiện tình tiết mà điều luật quy định; cũng có tội mà hành vi thỏa mãn các dấu hiệu luật định đã có thể đặt ra trách nhiệm hình sự mà không phải chờ một hậu quả vật chất cụ thể xảy ra.
Ví dụ trong các vụ cố ý gây thương tích, không thể chỉ nói “thương tích dưới 11% nên không phạm tội”. Điều 134 Bộ luật Hình sự còn quy định những trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng có các tình tiết luật định thì vẫn có thể bị xử lý hình sự. Trong các tội xâm phạm sở hữu, giá trị tài sản thường rất quan trọng nhưng một số điều luật cũng quy định trường hợp giá trị dưới ngưỡng vẫn bị xử lý khi có những điều kiện nhất định.
Do đó, sau khi tìm được tội danh có khả năng liên quan, cần đọc toàn bộ điều luật, không chỉ đọc khoản 1 hoặc nhìn vào con số đầu tiên trên Google. Nhiều trường hợp người đọc thấy “2 triệu đồng”, “11%” hoặc “5 triệu đồng” rồi cho rằng dưới mức đó chắc chắn không phạm tội, trong khi chính điều luật còn quy định những trường hợp ngoại lệ.
Một hành vi giống nhiều tội danh thì phải tìm dấu hiệu phân biệt
Đây thường là phần khó nhất. Chẳng hạn, cùng liên quan đến việc nhận tài sản rồi không trả, có thể phải phân biệt giữa tranh chấp dân sự với lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cùng liên quan đến việc làm người khác bị thương, có thể phải phân biệt cố ý gây thương tích với phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc các tội danh khác tùy diễn biến thực tế.
Khi đó phải đặt các tội danh cạnh nhau và tìm “dấu hiệu khóa”. Đối với nhóm chiếm đoạt tài sản, một trong những vấn đề rất quan trọng là tài sản được giao cho người thực hiện bằng cách nào, có thủ đoạn gian dối trước thời điểm giao tài sản hay không và ý định chiếm đoạt xuất hiện khi nào. Đối với hành vi đánh nhau, cần xem ai là người tấn công, hành vi xâm phạm có đang diễn ra hay không, mức độ chống trả và mục đích chống trả.
Đây cũng là lý do không nên định tội chỉ dựa vào một câu mô tả ngắn như “vay tiền rồi bỏ trốn”, “đánh người bị 8%”, “cầm hộ ma túy”, “cho mượn tài khoản ngân hàng”. Mỗi cụm từ đó còn thiếu rất nhiều dữ kiện quyết định trách nhiệm hình sự.
Đi cùng, cho mượn xe, chuyển tiền hộ có phải đồng phạm không?
Không phải cứ có liên quan đến người phạm tội là trở thành đồng phạm. Pháp luật hình sự đòi hỏi phải xem xét yếu tố cố ý cùng thực hiện tội phạm và vai trò cụ thể của từng người. Người đồng phạm có thể là người tổ chức, người thực hành, người xúi giục hoặc người giúp sức theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ A biết rõ B chuẩn bị đi thực hiện một tội phạm và cố ý cung cấp phương tiện nhằm giúp B thực hiện hành vi thì phải xem xét trách nhiệm của A theo quy định về đồng phạm và tội danh tương ứng. Nhưng nếu A cho B mượn xe để đi làm, hoàn toàn không biết B sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội thì chỉ riêng việc chiếc xe xuất hiện tại hiện trường không đủ để kết luận A là đồng phạm. Tương tự, người lái xe, người chuyển tiền, người đứng tên tài khoản hoặc người có mặt tại hiện trường đều phải được làm rõ về nhận thức, ý chí và sự tham gia thực tế.
Vì vậy, khi bị cho rằng “có liên quan”, câu hỏi quan trọng không chỉ là bạn đã làm gì mà còn là tại thời điểm làm việc đó bạn biết gì, có thỏa thuận gì với người khác và hành vi của bạn có nhằm tạo điều kiện cho việc phạm tội hay không.
Có hành vi gây thiệt hại nhưng vẫn có thể không phải là tội phạm
Không phải cứ gây thiệt hại là phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự quy định một chương riêng về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn, Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 – Phòng vệ chính đáng xác định phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức; phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Bộ luật còn quy định những trường hợp khác như sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên trong những điều kiện luật định. Vì vậy, việc chỉ thấy “A làm B bị thương” rồi lập tức tìm khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích có thể dẫn đến kết luận sai nếu bỏ qua hoàn cảnh hành vi xảy ra.
Đặc biệt trong các vụ xô xát, cần dựng lại từng giai đoạn của sự việc. Việc chống trả khi hành vi tấn công đang diễn ra phải được phân tích khác với việc sau khi nguy hiểm đã chấm dứt, một bên quay lại tìm đối phương để trả đũa.
Bị tố giác hoặc bị khởi tố chưa có nghĩa là đã được xác định có tội
Đây là vấn đề rất quan trọng. Một người bị tố giác, thậm chí đã bị khởi tố bị can, không đồng nghĩa về mặt pháp lý rằng người đó đã được xác định là người có tội. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 – Suy đoán vô tội xác định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ buộc tội, kết tội theo đúng trình tự thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Quan trọng hơn, Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 – Xác định sự thật của vụ án quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội. Cơ quan có thẩm quyền phải làm rõ cả chứng cứ xác định có tội lẫn chứng cứ xác định vô tội, cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, nếu bạn nhận được giấy triệu tập, được thông báo đang bị tố giác hoặc thậm chí đã nhận quyết định khởi tố bị can thì điều cần làm là xác định chính xác tư cách tố tụng, hành vi đang bị xem xét và căn cứ của tội danh, chứ không nên tự mặc định rằng mình chắc chắn đã phạm tội.
Cách tự kiểm tra một hành vi có dấu hiệu của tội gì
Có thể sử dụng một quy trình tương đối đơn giản. Trước hết, viết lại toàn bộ sự việc theo thời gian và chỉ ghi những gì thực sự xảy ra. Sau đó xác định hành vi trung tâm: lấy tài sản, đánh người, giữ tài sản, vận chuyển đồ vật, chuyển tiền, làm giả giấy tờ, cung cấp tài khoản, ký chứng từ hay giúp người khác thực hiện một hành vi nào đó. Tiếp theo, xác định hậu quả, giá trị tài sản, tỷ lệ thương tích, loại vật chứng, số người bị ảnh hưởng và những dữ kiện định lượng khác nếu tội danh có yêu cầu.
Sau đó mới tìm các tội danh có khả năng liên quan và đối chiếu từng dấu hiệu: ai là chủ thể; hành vi khách quan là gì; có hậu quả bắt buộc không; lỗi cố ý hay vô ý; có yêu cầu mục đích chiếm đoạt hoặc mục đích đặc biệt nào không; hành vi đã hoàn thành hay mới ở giai đoạn chuẩn bị/chưa đạt; người thực hiện trực tiếp hay tham gia với vai trò đồng phạm; có căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự hay không. Cuối cùng phải kiểm tra phiên bản pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm cần áp dụng, bởi Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi nhiều lần, trong đó có các sửa đổi năm 2025. Văn bản hợp nhất hiện hành được công bố trên Thư viện Pháp luật phản ánh các sửa đổi tương ứng.
Quan trọng nhất là không được bỏ qua những chứng cứ “không có lợi” cho nhận định ban đầu của mình. Nếu cho rằng mình chỉ vay tiền nhưng trong hồ sơ lại có tin nhắn giả mạo thông tin trước khi nhận tiền thì phải phân tích chính tin nhắn đó. Nếu cho rằng mình phòng vệ nhưng camera thể hiện sau khi đối phương dừng tấn công mình tiếp tục truy đuổi thì tình tiết này phải được xem xét. Phân tích hình sự chính xác phải dựa trên toàn bộ sự việc chứ không chỉ chọn các tình tiết có lợi.
Ba trường hợp rất dễ tự xác định sai tội danh
Trường hợp thứ nhất là tranh chấp tiền bạc. Việc một người nợ tiền, chậm thanh toán, kinh doanh thua lỗ hoặc không còn khả năng trả nợ không tự động biến quan hệ dân sự thành tội phạm. Muốn xem xét trách nhiệm hình sự phải xác định có hành vi và yếu tố chủ quan thỏa mãn một tội danh cụ thể hay không. Đặc biệt phải làm rõ thời điểm xuất hiện gian dối hoặc ý định chiếm đoạt.
Trường hợp thứ hai là xô xát. Không thể chỉ dựa vào tỷ lệ thương tích để xác định có tội hay không. Phải xem người nào tấn công trước, hành vi chống trả diễn ra trong hoàn cảnh nào, có sử dụng hung khí hay không, có tình tiết thuộc điều luật tương ứng hay không và có căn cứ phòng vệ chính đáng không. Một con số giám định chỉ là một phần của việc định tội.
Trường hợp thứ ba là “chỉ giúp một việc nhỏ”. Một người có thể không trực tiếp thực hiện hành vi chính nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu biết rõ việc phạm tội và cố ý tham gia với vai trò tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức. Ngược lại, không thể kết luận đồng phạm chỉ vì có quan hệ bạn bè, đi cùng, cho mượn tài sản hoặc vô tình thực hiện một công việc mà không biết mục đích phạm tội.
Biết mình có dấu hiệu phạm tội gì không đồng nghĩa tự kết luận mình có tội
Người dân hoàn toàn có thể đọc luật để đánh giá rủi ro và chuẩn bị phương án bảo vệ mình. Tuy nhiên, tự xác định “có dấu hiệu của tội A” khác hoàn toàn với việc kết luận một người phạm tội A. Kết luận trách nhiệm hình sự phải được đặt trong quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ theo pháp luật tố tụng hình sự.
Điều này đặc biệt quan trọng khi một vụ việc đang ở giai đoạn giải quyết tố giác. Người bị tố giác có thể mới chỉ là đối tượng của một nguồn tin về tội phạm. Sau khi kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền có thể xác định có căn cứ khởi tố hoặc không có căn cứ khởi tố tùy vào chứng cứ và quy định pháp luật. Ngay cả khi đã trở thành bị can, nguyên tắc suy đoán vô tội vẫn phải được bảo đảm theo Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Do đó, mục đích của việc tự kiểm tra tội danh nên là hiểu tình trạng pháp lý, bảo quản chứng cứ và có phương án làm việc phù hợp, chứ không phải tự nhận tội hoặc tự suy diễn trách nhiệm của mình.
Khi nghi ngờ mình có liên quan đến một vụ án hình sự, nên làm gì?
Việc đầu tiên là bảo toàn chứng cứ. Tin nhắn, lịch sử chuyển khoản, email, camera, hợp đồng, hóa đơn, dữ liệu vị trí, hồ sơ y tế và những người chứng kiến có thể trở thành chứng cứ quan trọng. Không nên xóa tin nhắn, chỉnh sửa tài liệu, tác động đến người làm chứng hoặc thống nhất lời khai với những người liên quan, bởi những hành vi đó có thể khiến tình trạng pháp lý phức tạp hơn.
Tiếp theo, nếu được cơ quan có thẩm quyền mời hoặc triệu tập làm việc, cần xác định mình đang tham gia với tư cách gì và nội dung nào đang được xác minh. Khi lập biên bản hoặc lấy lời khai, cần đọc kỹ toàn bộ nội dung trước khi ký; nếu biên bản ghi không đúng lời trình bày thì yêu cầu sửa hoặc bổ sung. Không ký vào giấy trắng, biên bản còn bỏ trống hoặc tài liệu có nội dung mình không hiểu rõ.
Nếu sự việc có nguy cơ hình sự rõ ràng, đặc biệt khi liên quan đến tài sản lớn, thương tích, ma túy, giấy tờ giả, nhiều người tham gia hoặc đang đứng giữa ranh giới của nhiều tội danh, việc luật sư nghiên cứu hồ sơ và dựng lại dòng thời gian từ sớm có thể giúp xác định đúng vấn đề pháp lý cần tập trung.
Luật sư xác định tội danh bằng cách nào?
Luật sư không nên bắt đầu bằng câu hỏi “Công an đang nói tội gì?” rồi mặc nhiên phân tích theo tội danh đó. Cách tiếp cận phù hợp hơn là dựng lại hành vi từ chứng cứ, xác định từng yếu tố pháp lý và sau đó đối chiếu với các tội danh có khả năng áp dụng. Nếu có hai hoặc ba tội danh gần nhau, cần lập bảng so sánh dấu hiệu phân biệt và xác định chứng cứ nào chứng minh hoặc bác bỏ từng dấu hiệu.
Đối với Luật sư, khi tiếp nhận một vụ việc có dấu hiệu hình sự, việc nghiên cứu nên tập trung vào bốn vấn đề: hành vi thực tế đã xảy ra; ý thức và mục đích của người thực hiện; hậu quả và các điều kiện định lượng; cuối cùng là các chứng cứ chứng minh hoặc loại trừ từng dấu hiệu của tội phạm. Sau khi xác định tội danh có khả năng liên quan mới tiếp tục đánh giá khung hình phạt, vai trò đồng phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, khả năng miễn trách nhiệm hình sự hoặc các vấn đề tố tụng tương ứng.
Cách làm này giúp tránh hai thái cực: thấy có đơn tố giác thì cho rằng chắc chắn phạm tội, hoặc thấy mình “không trực tiếp làm” thì cho rằng chắc chắn không có trách nhiệm. Trong hình sự, kết luận phải dựa trên hành vi cụ thể, lỗi, vai trò, hậu quả và chứng cứ.
Kết luận
“Làm sao biết mình đang phạm tội gì?” không thể trả lời chỉ bằng một câu mô tả hành vi. Muốn xác định đúng phải bắt đầu từ Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 về khái niệm tội phạm, sau đó đối chiếu hành vi thực tế với 4 yếu tốcấu thành của từng tội danh, kiểm tra lỗi cố ý hoặc vô ý, độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, hậu quả, giá trị tài sản, tỷ lệ thương tích, mục đích, vai trò của từng người và các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
Đồng thời, cần nhớ rằng việc một người tự thấy hành vi của mình “giống một tội danh”, bị người khác tố giác hoặc thậm chí đã bị khởi tố không đồng nghĩa người đó đã được xác định có tội. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về suy đoán vô tội và Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về trách nhiệm xác định sự thật vụ án là hai nguyên tắc rất quan trọng: trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, còn người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
