“Buôn ma túy bị đi tù bao nhiêu năm?” là câu hỏi thường xuất hiện khi một người bị bắt vì bán ma túy, mua ma túy về bán lại, nhận ma túy của người khác để giao cho khách hoặc tham gia một đường dây mua bán trái phép chất ma túy. Có người cho rằng chỉ bán một lượng nhỏ thì chưa đến mức bị xử lý hình sự; người khác lại nghĩ cứ dính đến mua bán ma túy là chắc chắn tù chung thân hoặc tử hình. Cả hai cách hiểu đều không chính xác.
Theo pháp luật hình sự hiện hành năm 2026, hành vi mua bán trái phép chất ma túy được xử lý theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt bởi Luật số 86/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Một thay đổi rất đáng chú ý là khung hình phạt cơ bản hiện nay đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là từ 03 năm đến 07 năm tù; các khung tăng nặng tiếp theo có thể lên đến 07–15 năm, 15–20 năm, 20 năm hoặc tù chung thân và ở khung đặc biệt nghiêm trọng có thể là tù chung thân hoặc tử hình.
Vì vậy, muốn biết một người “buôn ma túy bao lâu thì đi tù” không thể chỉ hỏi số lần bán hoặc số tiền thu được. Cần xác định chính xác loại ma túy, khối lượng hoặc thể tích, số lần phạm tội, số người liên quan, vai trò của từng người, có tổ chức hay không, có bán cho người dưới 16 tuổi hay không, có qua biên giới hay không và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
“Buôn ma túy” trong pháp luật được gọi là tội gì?
Trong cách nói thông thường, người dân thường sử dụng các cụm từ “buôn ma túy”, “bán ma túy”, “đi buôn hàng trắng”. Trong Bộ luật Hình sự, tội danh tương ứng là “Tội mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251.
Điều cần đặc biệt lưu ý là mua bán trái phép chất ma túy khác với tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy. Nếu một người giữ ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép thì tùy điều kiện có thể được xem xét theo Điều 249 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Nếu vận chuyển ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán hoặc tàng trữ trái phép thì có thể thuộc Điều 250. Nhưng nếu việc cất giữ hoặc vận chuyển ma túy nhằm phục vụ hoạt động mua bán thì bản chất và tội danh phải được xác định theo mục đích thực tế của hành vi, không thể chỉ dựa vào việc người đó bị bắt khi đang “cầm” hay “chở” ma túy.
Ví dụ, A mua ma túy rồi cất tại phòng trọ để chia nhỏ bán cho khách. Việc A cất ma túy trong phòng không thể đơn giản nhìn nhận là “chỉ tàng trữ” nếu chứng cứ xác định mục đích của việc cất giữ là để bán. Tương tự, B biết rõ một gói hàng là ma túy và tham gia giao cho khách theo sự phân công trong hoạt động mua bán thì việc xác định trách nhiệm phải căn cứ toàn bộ hành vi, ý thức và vai trò của B.
Chỉ bán một ít ma túy có phải đi tù không?
Đây là điểm khác biệt rất lớn giữa tội mua bán trái phép chất ma túy và cách nhiều người thường hình dung về các tội ma túy khác. Khoản 1 Điều 251 hiện hành quy định người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Điều luật không thiết kế khoản 1 theo hướng phải bán đến một khối lượng tối thiểu chung mới cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy.
Do đó, không nên suy luận rằng “ma túy ít thì chỉ bị phạt hành chính”. Đối với hành vi mua bán, yếu tố mục đích và bản chất mua bán có ý nghĩa đặc biệt. Ví dụ, một người mua một lượng nhỏ ma túy rồi chia ra bán cho người khác vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy nếu hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Khối lượng ma túy sau đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định khung hình phạt.
Cũng cần phân biệt trường hợp một người chỉ sử dụng ma túy, một người tàng trữ để sử dụng và một người mua về để bán. Cùng một khối lượng chất ma túy nhưng mục đích và hành vi khác nhau có thể dẫn tới việc áp dụng những quy định pháp luật hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, trong vụ án ma túy, câu hỏi “ma túy này dùng để làm gì?” thường quan trọng không kém câu hỏi “ma túy nặng bao nhiêu gam?”.
Khung cơ bản của tội mua bán trái phép chất ma túy: từ 03 năm đến 07 năm tù
Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự hiện hành, người mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp không rơi vào các khung tăng nặng ở những khoản tiếp theo có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Đây là mức hình phạt đã được sửa đổi so với quy định trước ngày 01/7/2025; vì vậy, khi đọc các bài viết cũ ghi mức thấp nhất là 02 năm tù cần kiểm tra lại thời điểm áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, “03 đến 07 năm” là khung hình phạt chứ không phải cứ phạm tội là bị tuyên 03 năm hoặc 07 năm. Khi quyết định hình phạt cụ thể trong phạm vi khung, Tòa án còn xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và những yếu tố khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, hai người cùng bị truy tố theo khoản 1 Điều 251 chưa chắc nhận mức án giống nhau. Một người phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và có nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể được đánh giá khác với người có nhân thân xấu hoặc có thêm tình tiết tăng nặng. Việc dự đoán mức án chỉ từ tội danh mà không đọc cáo trạng, kết luận giám định và hồ sơ vụ án là không đủ căn cứ.
Khi nào mua bán ma túy bị phạt từ 07 năm đến 15 năm tù?
Khoản 2 Điều 251 quy định khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù đối với nhiều trường hợp tăng nặng. Đáng chú ý có các trường hợp phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi; mua bán qua biên giới; tái phạm nguy hiểm và những trường hợp đạt ngưỡng khối lượng hoặc thể tích ma túy mà điều luật quy định.
Đối với một số chất thường gặp như Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam thuộc trường hợp quy định tại khoản 2. Đối với nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca, ngưỡng tại khoản này là từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam. Các chất ma túy khác ở thể rắn có ngưỡng từ 20 gam đến dưới 100 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 100 ml đến dưới 250 ml. Điều luật còn quy định riêng đối với cây, quả có chứa chất ma túy và trường hợp có từ 02 chất ma túy trở lên.
Như vậy, không thể chỉ hỏi “bán một gói ma túy bị bao nhiêu năm?”. Phải có kết luận giám định xác định đó là chất gì và khối lượng hoặc thể tích bao nhiêu; đồng thời kiểm tra những tình tiết định khung khác. Có trường hợp lượng ma túy chưa đến ngưỡng định lượng khoản 2 nhưng hành vi vẫn thuộc khoản 2 vì phạm tội có tổ chức hoặc phạm tội 02 lần trở lên.
Khi nào mức án tăng lên từ 15 năm đến 20 năm tù?
Khoản 3 Điều 251 quy định hình phạt từ 15 năm đến 20 năm tù khi khối lượng hoặc thể tích ma túy đạt các ngưỡng cao hơn. Đối với Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, ngưỡng thuộc khoản này là từ 30 gam đến dưới 100 gam. Đối với nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca là từ 01 kg đến dưới 05 kg.
Đối với các chất ma túy khác ở thể rắn, khoản 3 áp dụng với khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; các chất ma túy khác ở thể lỏng từ 250 ml đến dưới 750 ml. Điều luật cũng quy định những ngưỡng riêng đối với lá cây côca, lá khát, các bộ phận cây cần sa hoặc cây khác chứa chất ma túy, quả thuốc phiện khô, quả thuốc phiện tươi và trường hợp có từ 02 chất ma túy trở lên.
Ở mức này, hậu quả pháp lý đã rất nghiêm trọng. Chẳng hạn, một người bị xác định mua bán 50 gam Methamphetamine không còn nằm trong khung 07–15 năm chỉ dựa vào định lượng mà đã rơi vào khung 15–20 năm theo quy định hiện hành. Vì thế, trong các vụ án ma túy, kết luận giám định về loại và khối lượng chất ma túy là một trong những tài liệu luật sư phải kiểm tra rất kỹ.
Mua bán từ 100 gam ma túy trở lên có thể bị 20 năm hoặc tù chung thân
Khoản 4 Điều 251 hiện hành quy định mức hình phạt 20 năm hoặc tù chung thân đối với những trường hợp đạt ngưỡng đặc biệt lớn nhưng chưa đến mức của khoản 5. Đối với Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, khoản 4 áp dụng từ 100 gam đến dưới 03 kg. Đối với nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca là từ 05 kg đến dưới 30 kg.
Đối với các chất ma túy khác ở thể rắn, ngưỡng khoản 4 là từ 300 gam đến dưới 09 kg; thể lỏng từ 750 ml đến dưới 22 lít. Các loại cây, bộ phận cây và quả thuốc phiện cũng có ngưỡng riêng được quy định cụ thể tại điều luật.
Một điểm cần lưu ý là khoản 4 quy định hai loại hình phạt là 20 năm hoặc tù chung thân. Điều đó không có nghĩa cứ đạt 100 gam Methamphetamine thì chắc chắn bị tù chung thân. Việc lựa chọn hình phạt cụ thể phải căn cứ toàn bộ hồ sơ và các nguyên tắc quyết định hình phạt của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp nào mua bán ma túy có thể bị tử hình?
Theo khoản 5 Điều 251 hiện hành, khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình. Đối với Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, ngưỡng định lượng thuộc khoản 5 là từ 03 kg trở lên. Đối với nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca là từ 30 kg trở lên; các chất ma túy khác ở thể rắn từ 09 kg trở lên và thể lỏng từ 22 lít trở lên. Các loại cây, bộ phận cây, quả thuốc phiện và trường hợp hỗn hợp nhiều chất cũng được quy định riêng.
Đây là điểm pháp luật đã có thay đổi quan trọng từ ngày 01/7/2025. Điều 251 hiện hành không còn cấu trúc cũ mà đã phân hóa rõ khoản 4 là “20 năm hoặc tù chung thân” và khoản 5 là “tù chung thân hoặc tử hình”. Vì vậy, các bài viết pháp luật cũ trên Internet có thể không còn phản ánh chính xác mức định lượng và khung hình phạt hiện nay.
Ngoài hình phạt chính, khoản 6 Điều 251 còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Chỉ giao ma túy hộ người khác có bị coi là mua bán ma túy không?
Không thể trả lời chỉ dựa vào cụm từ “giao hộ”. Trong vụ án có đồng phạm, Điều 17 Bộ luật Hình sự yêu cầu xem xét việc từ hai người trở lên có cố ý cùng thực hiện một tội phạm hay không và xác định vai trò của người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Vì vậy, người trực tiếp cầm gói ma túy chưa chắc là người có vai trò cao nhất; ngược lại, người không trực tiếp cầm ma túy cũng không đương nhiên đứng ngoài trách nhiệm hình sự nếu có ý thức và hành vi cố ý tham gia vào hoạt động mua bán.
Ví dụ, A bảo B mang một gói hàng đến địa điểm X và B hoàn toàn không biết bên trong có ma túy. Trường hợp này phải chứng minh yếu tố lỗi của B, không thể chỉ vì B là người cầm gói hàng mà mặc nhiên kết luận B đồng phạm mua bán ma túy. Nhưng nếu B biết rõ đó là ma túy, biết việc giao hàng là một khâu trong hoạt động bán ma túy và vẫn cố ý thực hiện thì trách nhiệm hình sự phải được xem xét trên cơ sở vai trò cụ thể của B.
Đây là lý do trong các vụ án nhiều bị can, luật sư phải tách hành vi của từng người: ai liên hệ người mua, ai bỏ tiền mua ma túy, ai cất giữ, ai chia nhỏ, ai nhận tiền, ai giao hàng, ai hưởng lợi và mỗi người biết đến đâu về hoạt động chung. Không nên đánh đồng tất cả người xuất hiện trong vụ án thành những người có vai trò ngang nhau.
Mua ma túy về dùng nhưng chia lại cho bạn có phải “buôn ma túy” không?
Không nên chỉ dựa vào việc người đó có thu lợi hay không để kết luận. Tội mua bán trái phép chất ma túy không đồng nhất với hoạt động kinh doanh thông thường mà bắt buộc phải có “lợi nhuận” mới gọi là mua bán. Việc xác định hành vi phải dựa trên toàn bộ diễn biến: nguồn gốc ma túy, mục đích khi mua, việc giao chất ma túy cho người khác, có nhận tiền hoặc lợi ích hay không và các tình tiết liên quan.
Đặc biệt phải phân biệt việc bán ma túy với trường hợp cùng nhau sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc các hành vi khác. Mỗi tội danh có dấu hiệu cấu thành riêng và mức hình phạt khác nhau. Không thể thấy nhiều người cùng có mặt tại một địa điểm có ma túy rồi mặc nhiên truy cứu tất cả về tội mua bán.
Trong trường hợp hồ sơ có lời khai mâu thuẫn về mục đích của ma túy, các chứng cứ như tin nhắn mua bán, lịch sử cuộc gọi, dòng tiền, việc chia ma túy thành nhiều gói, dụng cụ cân chia, lời khai của người mua và các dữ liệu điện tử có thể có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định bản chất hành vi.
Bị bắt khi chưa kịp giao ma túy thì có thoát tội mua bán không?
Không thể hiểu rằng phải giao ma túy tận tay và nhận đủ tiền mới có thể phát sinh trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán. Việc xác định tội phạm phải căn cứ vào hành vi cụ thể, giai đoạn thực hiện tội phạm và chứng cứ chứng minh mục đích mua bán.
Ví dụ, một người đã nhận ma túy, chia thành các gói, thống nhất giá và địa điểm giao cho khách nhưng bị bắt trước khi giao. Việc chưa nhận được tiền không đương nhiên biến toàn bộ sự việc thành “tàng trữ để sử dụng”. Cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá ý thức, hành vi khách quan và giai đoạn thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngược lại, cũng không được suy đoán mục đích mua bán chỉ từ việc một người đang giữ ma túy. Nếu không có căn cứ chứng minh mục đích mua bán thì phải đánh giá đúng bản chất của việc tàng trữ, vận chuyển hoặc hành vi khác. Đây là vấn đề chứng minh, không phải vấn đề suy đoán.
Thành khẩn khai báo, đầu thú, hợp tác có được giảm án không?
Có thể được xem xét nếu đáp ứng đúng điều kiện của Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được pháp luật quy định gồm nhiều trường hợp khác nhau; khi quyết định hình phạt, Tòa án phải xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cùng nhân thân và vai trò của người phạm tội.
Trong vụ án ma túy có nhiều người tham gia, việc phân hóa vai trò đặc biệt quan trọng. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy một đường dây không thể được đánh giá giống người giúp sức có vai trò hạn chế nếu chứng cứ thể hiện sự khác biệt thực sự. Tương tự, phạm tội lần đầu, quá trình khai báo, thái độ hợp tác và các tình tiết nhân thân hợp pháp có thể được xem xét khi lượng hình, nhưng không phải cứ có một tình tiết giảm nhẹ là tự động được giảm xuống một số năm tù cố định.
Đối với các khung hình phạt rất cao, việc đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và vai trò của từng bị cáo càng có ý nghĩa. Tuy nhiên, luật sư không thể chỉ tập trung “xin giảm nhẹ” mà bỏ qua việc kiểm tra tội danh và khung hình phạt ngay từ đầu.
Vì sao kết luận giám định đặc biệt quan trọng trong vụ án ma túy?
Điều 251 hiện hành phân chia nhiều khung hình phạt dựa trực tiếp vào loại và khối lượng hoặc thể tích chất ma túy. Chỉ vài gam chênh lệch ở một số ngưỡng có thể dẫn đến việc chuyển từ khung hình phạt này sang khung khác. Ví dụ, với Methamphetamine, từ 05 gam đến dưới 30 gam thuộc một ngưỡng; từ 30 gam đến dưới 100 gam thuộc ngưỡng cao hơn; từ 100 gam đến dưới 03 kg tiếp tục thuộc khung nghiêm khắc hơn và từ 03 kg trở lên có thể thuộc khoản 5 Điều 251.
Do đó, khi nghiên cứu hồ sơ, không nên chỉ đọc cáo trạng rồi dừng lại. Cần đối chiếu biên bản thu giữ, niêm phong, mở niêm phong, kết luận giám định, loại chất ma túy, khối lượng mẫu gửi giám định, khối lượng vật chứng và quá trình quản lý vật chứng. Nếu vụ án có nhiều loại chất ma túy thì phải kiểm tra cách xác định tổng khối lượng hoặc thể tích tương đương theo quy định hiện hành.
Đây cũng là lý do không thể trả lời mức án chỉ bằng thông tin “bị bắt với 10 viên ma túy” hoặc “có một túi ma túy đá”. Cần biết kết luận giám định xác định chất gì và khối lượng bao nhiêu.
Bảng mức hình phạt dễ nhớ đối với tội mua bán trái phép chất ma túy
Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự hiện hành, có thể ghi nhớ cấu trúc hình phạt như sau: khoản 1 từ 03–07 năm tù; khoản 2 từ 07–15 năm tù; khoản 3 từ 15–20 năm tù; khoản 4 là 20 năm hoặc tù chung thân; khoản 5 là tù chung thân hoặc tử hình.
Tuy nhiên, bảng này chỉ giúp hình dung mức độ nghiêm khắc. Muốn biết một vụ án cụ thể thuộc khoản nào phải đối chiếu từng tình tiết định khung tại Điều 251. Đặc biệt, không phải mọi khung đều chỉ phụ thuộc khối lượng ma túy. Khoản 2 còn bao gồm các tình tiết như có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, sử dụng người dưới 16 tuổi, bán cho người dưới 16 tuổi, qua biên giới hoặc tái phạm nguy hiểm.
Vì vậy, một người bán lượng ma túy nhỏ nhưng thực hiện nhiều lần vẫn có thể đối diện khung hình phạt cao hơn trường hợp chỉ nhìn vào khối lượng của một lần bán.
Luật sư cần kiểm tra những gì khi bào chữa vụ án mua bán ma túy?
Đối với một vụ án bị truy tố theo Điều 251, luật sư trước hết phải kiểm tra hành vi có thực sự là “mua bán” hay không. Cần xác định nguồn gốc ma túy, mục đích cất giữ và vận chuyển, quá trình liên lạc với người mua, dòng tiền, dữ liệu điện tử, lời khai của những người liên quan và sự phù hợp giữa lời khai với chứng cứ khách quan. Nếu có nhiều bị can, phải phân hóa vai trò từng người chứ không mặc nhiên chấp nhận cách mô tả chung trong hồ sơ.
Tiếp theo phải kiểm tra loại và khối lượng chất ma túy để xác định chính xác khoản áp dụng của Điều 251. Sau đó mới đánh giá các tình tiết như có tổ chức, số lần phạm tội, số người mua, qua biên giới, sử dụng người dưới 16 tuổi, tái phạm nguy hiểm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Việc xác định sai chỉ một tình tiết định khung có thể ảnh hưởng rất lớn đến phạm vi hình phạt.
Cuối cùng, luật sư cần rà soát tính hợp pháp của quá trình thu thập chứng cứ, bắt giữ, khám xét, thu giữ, niêm phong, giám định và lấy lời khai. Bào chữa trong vụ án ma túy không chỉ là xin giảm nhẹ hình phạt mà trước hết phải kiểm tra xem tội danh, khối lượng ma túy, khung hình phạt và vai trò của bị cáo đã được xác định chính xác hay chưa.
Kết luận: buôn ma túy có thể bị phạt từ 03 năm tù đến tử hình
Theo Điều 251 Bộ luật Hình sự hiện hành sau khi được sửa đổi bởi Luật số 86/2025/QH15, tội mua bán trái phép chất ma túy có 5 khung hình phạt chính: từ 03 đến 07 năm; từ 07 đến 15 năm; từ 15 đến 20 năm; 20 năm hoặc tù chung thân; và tù chung thân hoặc tử hình.
Do đó, câu hỏi “buôn ma túy bao lâu thì đi tù?” không có một con số duy nhất. Có trường hợp mức hình phạt bắt đầu từ 03 năm tù, nhưng cũng có trường hợp phải đối diện 15–20 năm, 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Muốn xác định đúng phải trả lời ít nhất bốn vấn đề: hành vi có phải mua bán hay không; ma túy là loại gì; khối lượng hoặc thể tích bao nhiêu; và có những tình tiết định khung nào khác.
Đặc biệt, các bài viết sử dụng Điều 251 trước ngày 01/7/2025 có thể ghi mức hình phạt và ngưỡng định lượng khác với pháp luật hiện hành. Khi giải quyết vụ án xảy ra trong những thời điểm chuyển tiếp còn phải xác định thời điểm thực hiện hành vi và nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội theo Bộ luật Hình sự, thay vì máy móc lấy văn bản mới nhất áp dụng cho mọi trường hợp.
Căn cứ pháp lý
Căn cứ trọng tâm là Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi các luật có liên quan, đặc biệt Luật số 86/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; Điều 251 về tội mua bán trái phép chất ma túy; Điều 17 về đồng phạm; Điều 50 về căn cứ quyết định hình phạt và Điều 51 về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nội dung Điều 251 hiện hành trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật thể hiện mức hình phạt thấp nhất 03 năm tù và mức cao nhất là tử hình.
Thông tin liên hệ
Văn phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
