Khi một người qua đời để lại nhà đất, tiền hoặc tài sản khác, việc phân chia di sản vốn đã dễ phát sinh tranh chấp. Vấn đề càng trở nên phức tạp khi trong số những người thừa kế có một người mắc bệnh tâm thần, không thể tự mình ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản, khai nhận di sản hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến phần tài sản được hưởng.
Nhiều gia đình khi gặp tình huống này thường cho rằng: “Người này bị tâm thần thì không biết gì, cứ chia cho những người còn lại”, “Không ký được thì cho người thân ký thay”, hoặc “Để bố mẹ, anh chị em đại diện nhận phần thừa kế là được”.
Đây là cách xử lý tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn.
Mắc bệnh tâm thần không đồng nghĩa với mất quyền thừa kế. Mắc bệnh tâm thần cũng chưa đương nhiên đồng nghĩa với việc người đó đã mất năng lực hành vi dân sự. Muốn xác định một người mất năng lực hành vi dân sự phải có quyết định của Tòa án trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015.
Do đó, nếu bỏ qua người thừa kế mắc bệnh tâm thần khi phân chia di sản hoặc tùy tiện để người khác ký thay mà không có căn cứ đại diện hợp pháp, văn bản phân chia di sản và những giao dịch tiếp theo đối với nhà đất có thể phát sinh tranh chấp, thậm chí bị yêu cầu tuyên vô hiệu.
Vậy người mắc bệnh tâm thần có được hưởng thừa kế không? Ai được ký thay? Có bắt buộc phải yêu cầu Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự không? Người giám hộ có được bán phần đất mà người bệnh được thừa kế không? Những người thừa kế khác có thể tự chia di sản khi người này không ký được hay không?
Người mắc bệnh tâm thần có được hưởng di sản thừa kế không?
Câu trả lời là CÓ, nếu người đó thuộc trường hợp được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật và không thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật.
Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế là cá nhân phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Quy định này không đặt ra điều kiện người thừa kế phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới được hưởng di sản.
Ví dụ, ông A mất và không để lại di chúc. Ông A có ba người con là B, C và D. Trong đó D mắc bệnh tâm thần từ nhiều năm trước.
Nếu cả ba người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và không có căn cứ khác làm thay đổi quyền hưởng di sản thì việc D mắc bệnh tâm thần không làm mất tư cách người thừa kế của D.
Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau.
Giả sử di sản của ông A sau khi thanh toán các nghĩa vụ còn lại là một thửa đất trị giá 6 tỷ đồng và chỉ có ba người con B, C, D thuộc diện hưởng thừa kế theo pháp luật. Nếu không có tình tiết pháp lý khác, việc D mắc bệnh tâm thần không phải căn cứ để chia tài sản chỉ cho B và C.
Phần quyền của D vẫn phải được xác định và bảo vệ.
Điều mà D có thể bị hạn chế không phải quyền hưởng thừa kế, mà là khả năng tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến phần di sản nếu D đã bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự hoặc thuộc trường hợp có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quyết định của Tòa án.
Hai vấn đề này phải được phân biệt rõ:
Có quyền hưởng tài sản là một chuyện.
Tự mình ký kết, định đoạt tài sản lại là một chuyện khác.
Đây chính là điểm nhiều gia đình nhầm lẫn khi giải quyết thừa kế.
Mắc bệnh tâm thần có đương nhiên là mất năng lực hành vi dân sự?
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng. Không thể chỉ dựa vào giấy khám bệnh, hồ sơ điều trị hoặc việc một người có biểu hiện tâm thần để gia đình tự tuyên bố rằng người đó “mất năng lực hành vi dân sự”. Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Như vậy, phải có hai tầng vấn đề.
Thứ nhất, tình trạng bệnh phải làm người đó không thể nhận thức, làm chủ hành vi.
Thứ hai, về mặt pháp lý phải có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Do đó, việc gia đình nói rằng “anh ấy bị tâm thần 20 năm rồi” chưa đủ để những người khác tự ý thay mặt anh ấy ký văn bản phân chia tài sản.
Ngược lại, Bộ luật Dân sự còn quy định một trường hợp khác tại Điều 23 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đây là trường hợp người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự. Khi có yêu cầu và căn cứ luật định, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, chỉ định người giám hộ và xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Điều đó cho thấy pháp luật không đánh đồng tất cả những người mắc bệnh tâm thần. Có người vẫn có những khoảng thời gian tỉnh táo và có khả năng nhận thức nhất định. Có người không còn khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Có người ở trạng thái trung gian và cần được hỗ trợ trong một số giao dịch.
Vì vậy, không nên tự gắn nhãn “mất năng lực hành vi dân sự” cho một người chỉ dựa vào tình trạng bệnh lý. Đối với việc phân chia nhà đất thừa kế có giá trị lớn, xác định sai tình trạng năng lực hành vi có thể khiến toàn bộ giao dịch sau đó phát sinh tranh chấp.
Người thừa kế không thể nhận thức, làm chủ hành vi thì phải làm thế nào?
Nếu người thừa kế thực tế mắc bệnh tâm thần đến mức không thể nhận thức, làm chủ hành vi và không thể tự mình tham gia các thủ tục phân chia di sản, hướng xử lý an toàn về pháp lý là thực hiện thủ tục để Tòa án xác định tình trạng năng lực hành vi dân sự theo quy định. Khi Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự, khoản 2 Điều 22 BLDS quy định giao dịch dân sự của họ phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Ví dụ, bố mất để lại một thửa đất cho ba người con A, B, C. C mắc bệnh tâm thần nặng và đã được Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự.
Khi gia đình thực hiện việc phân chia di sản, không thể đơn giản yêu cầu C ký vào văn bản nếu C không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Người đại diện hợp pháp của C phải tham gia để bảo vệ phần quyền lợi mà C được hưởng.
Điều đặc biệt cần lưu ý là người đại diện không tham gia để “cho phần của C cho người khác”, mà phải hành động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của C.
Giả sử ba người mỗi người đáng lẽ được hưởng 1/3 thửa đất. Những người còn lại không thể vì C không có khả năng phản đối mà thống nhất:
“C bị bệnh nên không cần đất, chia toàn bộ cho A và B.”
Nếu việc này làm mất phần tài sản hợp pháp của C thì quyền lợi của C đã bị xâm phạm. Đây là lý do pháp luật đặt ra cơ chế giám hộ. Người mất năng lực hành vi dân sự không phải là người “không có quyền”, mà là người cần có cơ chế đại diện để quyền của họ được bảo vệ.
Ai là người giám hộ và được đại diện cho người thừa kế?
Không phải bất kỳ người thân nào cũng đương nhiên có quyền ký thay.
Bộ luật Dân sự quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự tại Điều 53.
Theo đó, trong trường hợp không có người giám hộ được lựa chọn theo quy định của pháp luật, nếu vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ. Các trường hợp tiếp theo được xác định theo quan hệ cha mẹ, con và các quy định về giám hộ.
Người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ; đại diện trong giao dịch dân sự; quản lý tài sản và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Đồng thời, người giám hộ được đại diện cho người được giám hộ xác lập, thực hiện giao dịch nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Ví dụ, người con C bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự và mẹ C là người giám hộ hợp pháp. Khi C được hưởng một phần di sản của cha, người mẹ có thể tham gia thủ tục liên quan với tư cách người đại diện cho C trong phạm vi pháp luật cho phép.
Tuy nhiên, phải hết sức cẩn trọng nếu người giám hộ đồng thời cũng là một người thừa kế trong cùng khối di sản. Khi đó có thể xuất hiện xung đột lợi ích.
Ví dụ, mẹ và người con mất năng lực hành vi dân sự đều cùng được hưởng di sản. Nếu người mẹ đại diện cho con để ký một thỏa thuận mà theo đó phần tài sản của con bị giảm xuống còn phần của mẹ tăng lên thì tính hợp pháp của giao dịch cần được xem xét đặc biệt nghiêm ngặt.
Pháp luật về giám hộ được thiết kế để bảo vệ người yếu thế, không phải để tạo cơ chế giúp người giám hộ chuyển tài sản của người được giám hộ sang cho mình.
Vì vậy, trong những vụ thừa kế có giá trị lớn, việc xác định người giám hộ, người giám sát việc giám hộ và xung đột lợi ích phải được xử lý ngay từ đầu.
Người giám hộ có được tự ý bán, tặng cho phần di sản của người bệnh không?
Câu trả lời là KHÔNG ĐƯỢC TỰ Ý ĐỊNH ĐOẠT. Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình và chỉ được thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó vì lợi ích của người được giám hộ.
Đặc biệt, đối với việc bán, trao đổi, cho thuê, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác liên quan đến tài sản có giá trị lớn, pháp luật yêu cầu phải có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Quan trọng hơn, Điều 59 còn quy định:
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác.
Đây là quy định đặc biệt quan trọng đối với tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất.
Ví dụ, C được hưởng 300m² đất thừa kế nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự. Anh trai C là người giám hộ.
Người anh không thể tự quyết định:
“C không có gia đình, sau này cũng không dùng đến đất nên tôi ký cho luôn phần 300m² này cho em gái.”
Dù người giám hộ cho rằng việc này “hợp tình cảm gia đình”, về pháp lý tài sản vẫn thuộc quyền của C.
Tương tự, nếu muốn bán phần đất của C để lấy tiền chữa bệnh, chăm sóc hoặc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của C, phải chứng minh giao dịch được thực hiện vì lợi ích của C và tuân thủ các yêu cầu pháp luật về quản lý tài sản của người được giám hộ, bao gồm sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ đối với tài sản có giá trị lớn. Người giám hộ không trở thành chủ sở hữu tài sản chỉ vì mình đang quản lý tài sản đó. Giám hộ là trách nhiệm bảo vệ tài sản, không phải quyền chiếm hữu tài sản cho bản thân.
Có được chia di sản mà bỏ qua người thừa kế mắc bệnh tâm thần?
Về nguyên tắc, nếu người mắc bệnh tâm thần vẫn là người có quyền hưởng di sản thì không được tự ý loại họ khỏi việc phân chia chỉ vì họ không có khả năng tự ký. Đây là sai lầm khá phổ biến.
Ví dụ, bố mẹ có bốn người con. Một người mắc bệnh tâm thần từ nhỏ. Khi bố mẹ mất, ba người còn lại cùng nhau lập văn bản phân chia toàn bộ nhà đất và cho rằng:
“Em ấy bị bệnh, không biết gì nên để chúng tôi đứng tên rồi chăm sóc sau.”
Cách làm này có thể trực tiếp xâm phạm quyền thừa kế của người bệnh.
Nếu người này thuộc hàng thừa kế thứ nhất, Điều 651 BLDS xác định họ có vị trí thừa kế như những người con khác và những người cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần bằng nhau. Bệnh tâm thần không nằm trong danh sách các căn cứ tự động làm mất quyền hưởng di sản. Vì vậy, nếu người bệnh không thể tự tham gia giao dịch thì phải giải quyết thông qua cơ chế đại diện, giám hộ phù hợp, chứ không phải bằng cách xóa tên họ khỏi hàng thừa kế. Nếu một văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được lập mà bỏ sót người thừa kế có quyền, người này hoặc người đại diện hợp pháp của họ có thể yêu cầu bảo vệ quyền lợi theo quy định pháp luật. Đặc biệt, nếu sau khi phân chia, những người còn lại đã sang tên Giấy chứng nhận rồi bán đất cho người thứ ba thì tranh chấp sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều.
Lúc đó không chỉ còn tranh chấp thừa kế mà có thể phải xem xét hiệu lực văn bản phân chia di sản, đăng ký biến động, hợp đồng chuyển nhượng tiếp theo và quyền lợi của người thứ ba. Do đó, việc xử lý đúng ngay từ đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thủ tục nên thực hiện khi gia đình có người thừa kế mắc bệnh tâm thần
Khi trong hàng thừa kế có người mắc bệnh tâm thần, việc đầu tiên không phải là vội vàng đến Văn phòng công chứng để chia đất, mà phải xác định tình trạng pháp lý của người đó.
Nếu người đó đang điều trị bệnh nhưng vẫn có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì không thể mặc nhiên để người khác ký thay.
Nếu tình trạng bệnh khiến người đó không thể nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án thì người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có thể thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 BLDS. Việc tuyên bố phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần.
Nếu người đó chưa đến mức mất năng lực nhưng gặp khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì cần xem xét cơ chế tại Điều 23 BLDS để Tòa án xác định phạm vi giám hộ phù hợp.
Sau khi tình trạng pháp lý được xác định, cần xác định đúng người giám hộ, người đại diện và trong trường hợp cần thiết là người giám sát việc giám hộ. Tiếp theo mới tiến hành xác định di sản, những người thừa kế, phần quyền của từng người và thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản. Đối với phần tài sản của người được giám hộ, mọi thỏa thuận phải hướng đến bảo vệ quyền lợi của chính người đó. Nếu di sản là nhà đất và sau khi chia cần bán tài sản, cần tiếp tục kiểm tra điều kiện quản lý, định đoạt tài sản theo Điều 59 BLDS, thay vì cho rằng hoàn thành thủ tục thừa kế đồng nghĩa người giám hộ có toàn quyền bán. Trình tự này có thể mất thêm thời gian nhưng an toàn hơn rất nhiều so với việc cả gia đình ký một văn bản phân chia thiếu người rồi nhiều năm sau phát sinh tranh chấp.
Những sai lầm cần tránh khi phân chia di sản
Sai lầm nguy hiểm nhất là đồng nhất bệnh tâm thần với mất năng lực hành vi dân sự. Một hồ sơ bệnh án không thay thế quyết định của Tòa án theo Điều 22 BLDS. Muốn xác định một người mất năng lực hành vi dân sự phải tuân thủ đúng thủ tục pháp luật.
Sai lầm thứ hai là nghĩ rằng người mất năng lực hành vi dân sự thì không được hưởng thừa kế. Hoàn toàn không phải như vậy. Họ vẫn có quyền sở hữu tài sản, quyền hưởng di sản và các quyền dân sự khác; điểm khác biệt là giao dịch của họ được thực hiện thông qua cơ chế đại diện phù hợp.
Sai lầm thứ ba là để một người thân bất kỳ ký thay. Quan hệ cha mẹ, anh chị em ruột không tự động trao quyền đại diện trong mọi trường hợp. Phải xác định đúng căn cứ giám hộ hoặc đại diện theo pháp luật.
Sai lầm thứ tư là người giám hộ coi phần di sản của người bệnh như tài sản của mình. Điều 59 BLDS yêu cầu quản lý tài sản vì lợi ích của người được giám hộ và đặt ra những giới hạn đặc biệt đối với tài sản có giá trị lớn.
Sai lầm thứ năm là cố tình không kê khai người bệnh khi công chứng văn bản phân chia di sản vì nghĩ rằng “sau này người đó cũng không kiện được”. Người mất năng lực hành vi dân sự có cơ chế đại diện để bảo vệ quyền lợi. Việc họ không thể trực tiếp đi kiện không đồng nghĩa quyền tài sản của họ biến mất.
Một giao dịch được thực hiện bằng cách bỏ qua người thừa kế yếu thế có thể trở thành nguồn gốc của tranh chấp kéo dài nhiều năm.
Kết luận
Người thừa kế mắc bệnh tâm thần vẫn có quyền hưởng di sản như những người thừa kế khác nếu họ thuộc diện được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Điều 613 BLDS 2015 không đặt điều kiện người thừa kế phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới được nhận di sản; còn Điều 651 xác định những người cùng hàng thừa kế theo pháp luật về nguyên tắc được hưởng phần bằng nhau.
Điều quan trọng nhất cần ghi nhớ là:
Mắc bệnh tâm thần khác với đương nhiên mất năng lực hành vi dân sự.
Theo Điều 22 BLDS, phải có quyết định của Tòa án trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần mới xác lập tình trạng một người mất năng lực hành vi dân sự. Khi đó, giao dịch của họ phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.
Người giám hộ có trách nhiệm quản lý phần di sản vì lợi ích của người được giám hộ, không được tùy tiện chiếm hữu, chia cho người khác hoặc tự ý bán tài sản có giá trị lớn. Điều 59 BLDS còn yêu cầu những giao dịch quan trọng đối với tài sản của người được giám hộ phải tuân thủ cơ chế giám sát việc giám hộ.
Vì vậy, khi gia đình có người thừa kế mắc bệnh tâm thần, tuyệt đối không nên tự ý bỏ tên người đó khỏi văn bản phân chia di sản chỉ vì họ không thể ký.
Cần làm rõ bốn vấn đề: người đó có quyền hưởng thừa kế hay không; tình trạng năng lực hành vi dân sự đã được Tòa án xác định chưa; ai là người đại diện hoặc giám hộ hợp pháp; và phương án phân chia có bảo đảm đầy đủ phần quyền của người bệnh hay không.
Đặc biệt đối với di sản là nhà đất có giá trị lớn, chỉ một sai sót trong việc xác định người đại diện có thể khiến văn bản phân chia di sản, thủ tục sang tên và cả những giao dịch chuyển nhượng sau này đứng trước nguy cơ tranh chấp.
Người mắc bệnh tâm thần có thể không tự bảo vệ được tài sản của mình, nhưng pháp luật không vì thế mà tước đi quyền thừa kế của họ. Ngược lại, chính trong trường hợp này, quyền lợi của họ càng phải được bảo vệ chặt chẽ hơn.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ: 0972 810 901 – 0969 545 660
📧 Email: [email protected]
