Khi một người bị Công an đưa về trụ sở rồi ra quyết định tạm giữ, gia đình thường rơi vào tâm lý hoang mang: “Có phải Công an đã xác định người thân tôi phạm tội?”, “Bị giữ bao lâu thì được về?”, “Chưa khởi tố bị can tại sao vẫn bị tạm giữ?”, “Tự nguyện ra đầu thú có bị giữ lại không?”. Nhiều người vẫn hiểu đơn giản rằng chỉ người đã phạm tội mới bị tạm giữ. Cách hiểu này chưa chính xác.
Theo Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, có thể được áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Vì vậy, một người bị tạm giữ không đồng nghĩa người đó đã bị Tòa án xác định có tội.
Điều quan trọng khi một người bị tạm giữ không phải chỉ hỏi “bị giữ vì tội gì?”, mà phải kiểm tra ít nhất bốn vấn đề: Căn cứ nào dẫn đến việc bắt, giữ? Ai ra quyết định? Thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ là khi nào? Việc tạm giữ, gia hạn tạm giữ có đúng trình tự và thời hạn luật định hay không?
BỊ GIỮ TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP – CHƯA KHỞI TỐ BỊ CAN VẪN CÓ THỂ BỊ TẠM GIỮ
Một trong những trường hợp dễ gây nhầm lẫn nhất là giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Nhiều gia đình cho rằng nếu chưa có quyết định khởi tố bị can thì cơ quan điều tra không thể giữ người. Tuy nhiên, BLTTHS cho phép áp dụng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi có những căn cứ cụ thể do luật định; sau đó người bị giữ có thể bị ra quyết định tạm giữ để phục vụ quá trình xác minh, xử lý ban đầu.
Theo Điều 110 BLTTHS, việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp được đặt ra trong ba nhóm trường hợp. Thứ nhất, có đủ căn cứ xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thứ hai, người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Thứ ba, có dấu vết của tội phạm ở người, chỗ ở, nơi làm việc hoặc phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Hướng dẫn liên ngành cũng yêu cầu hồ sơ phải có tài liệu, chứng cứ tương ứng với căn cứ giữ người được áp dụng.
Ví dụ, sau một vụ cướp tài sản nghiêm trọng, cơ quan điều tra phát hiện tại nơi ở của A có tài sản phù hợp với tài sản vừa bị chiếm đoạt, đồng thời có căn cứ cho thấy A chuẩn bị bỏ trốn. Trong trường hợp đủ điều kiện luật định, việc giữ người khẩn cấp có thể được thực hiện mà không phải chờ đến khi toàn bộ vụ án đã được điều tra hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, cần đặc biệt phân biệt “giữ người trong trường hợp khẩn cấp” với “tạm giữ”. Đây không phải hai khái niệm hoàn toàn đồng nhất. Việc giữ người khẩn cấp là căn cứ, thủ tục tố tụng xảy ra trước; sau đó người có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm giữ theo Điều 117 nếu có căn cứ. Theo hướng dẫn liên ngành, việc ra quyết định tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ.
BỊ BẮT QUẢ TANG – MỘT TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP PHỔ BIẾN DẪN ĐẾN TẠM GIỮ
Trường hợp thứ hai thường gặp là bắt người phạm tội quả tang. Hiểu đơn giản, đây là tình huống một người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Khác với việc cơ quan điều tra phải tiến hành xác minh một vụ việc đã xảy ra từ lâu rồi mới tìm ra người bị nghi ngờ, phạm tội quả tang thường có sự tiếp nối trực tiếp giữa hành vi phạm tội và việc phát hiện, bắt giữ.
Ví dụ, một người đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong cửa hàng thì bị chủ cửa hàng phát hiện; một người vừa giật điện thoại của người đi đường rồi bỏ chạy và ngay lập tức bị người dân đuổi bắt; hoặc trong những tình huống khác đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của bắt người phạm tội quả tang theo BLTTHS. Sau khi người bị bắt được giao cho cơ quan có thẩm quyền, cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện các thủ tục luật định để xác định hướng xử lý tiếp theo. Nếu có căn cứ, người bị bắt quả tang có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ theo Điều 117.
Nhưng cần nhấn mạnh rằng “bị bắt quả tang” và “bị kết án” là hai giai đoạn hoàn toàn khác nhau. Ngay cả khi bị bắt tại hiện trường, người đó vẫn có các quyền tố tụng theo pháp luật và việc xác định họ có phạm tội hay không, phạm tội gì, vai trò như thế nào, phải chịu hình phạt ra sao phải được giải quyết theo đúng trình tự tố tụng. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự không cho phép coi một người là có tội chỉ vì họ đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Do đó, nếu người thân bị bắt quả tang, gia đình nên tìm hiểu chính xác biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời điểm bắt, đồ vật và tài liệu bị thu giữ, quyết định tạm giữ nếu có và thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ. Đây là những tài liệu quan trọng để luật sư kiểm tra tính hợp pháp của quá trình tố tụng ngay từ đầu.
TỰ THÚ, ĐẦU THÚ HOẶC BỊ BẮT THEO QUYẾT ĐỊNH TRUY NÃ VẪN CÓ THỂ BỊ TẠM GIỮ
Một suy nghĩ khá phổ biến là: “Nếu tự mình đến Công an trình diện thì chắc chắn sẽ được cho về.” Điều này không chính xác. Điều 117 BLTTHS quy định người phạm tội tự thú, đầu thú thuộc nhóm đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ. Vì vậy, việc một người chủ động đến cơ quan có thẩm quyền không đồng nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải để người đó trở về nhà ngay sau khi lấy lời khai.
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa tự thú và đầu thú, đồng thời phân biệt việc một người thuộc trường hợp có thể bị tạm giữ với việc họ có được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không. Đây là những vấn đề pháp lý khác nhau. Khi đánh giá trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải căn cứ Bộ luật Hình sự, diễn biến cụ thể của việc trình diện, khai báo và các tình tiết của vụ án. Vì vậy, không nên tư vấn cho người đang có liên quan đến vụ án rằng chỉ cần “ra đầu thú thì chắc chắn không bị giữ”.
Một trường hợp khác được Điều 117 quy định trực tiếp là người bị bắt theo quyết định truy nã. Khi một người đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã và sau đó bị bắt, người đó có thể bị tạm giữ để thực hiện các thủ tục tiếp theo. Vì vậy, khi gia đình chỉ nhận được thông tin “người thân bị Công an bắt”, việc đầu tiên cần xác định là người đó bị giữ khẩn cấp, bắt quả tang, bắt theo quyết định truy nã hay thuộc trường hợp khác. Mỗi căn cứ bắt, giữ có thủ tục và yêu cầu pháp lý riêng.
Đặc biệt, không nên đánh đồng việc một người được mời lên làm việc, triệu tập, giữ người, bắt người và tạm giữ. Tạm giữ phải được thể hiện bằng quyết định tố tụng của người có thẩm quyền, trong đó phải có những nội dung mà BLTTHS quy định. Việc xác định đúng tư cách pháp lý quyết định rất lớn đến quyền của người đang làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng.
BỊ TẠM GIỮ KHÔNG CÓ NGHĨA ĐÃ PHẠM TỘI – GIA ĐÌNH CẦN KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH TẠM GIỮ
Đây là vấn đề quan trọng nhất cần hiểu đúng. Tạm giữ không phải hình phạt. Hình phạt chỉ được áp dụng theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với người bị xác định phạm tội. Trong khi đó, tạm giữ là biện pháp tố tụng được áp dụng ở giai đoạn sớm hơn nhằm phục vụ việc giải quyết vụ án và đáp ứng những mục đích tố tụng theo quy định. Một người đang bị tạm giữ vẫn chưa thể vì thế mà bị coi là người đã có tội.
Điều 117 BLTTHS yêu cầu quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ; lý do tạm giữ; giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ, cùng những nội dung theo luật định. Quyết định tạm giữ phải được giao cho người bị tạm giữ. Đồng thời, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định phải gửi quyết định cùng các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Cơ chế này cho thấy việc tạm giữ không phải là quyền tùy nghi tuyệt đối của cơ quan điều tra. Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm quyết định có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, nếu gia đình nghi ngờ người thân bị giữ không có căn cứ, vấn đề cần kiểm tra không phải bằng những lời truyền miệng như “Công an bảo giữ vài hôm để điều tra”, mà phải dựa vào quyết định tố tụng, thời điểm bắt đầu giữ, căn cứ pháp lý và hồ sơ liên quan.
Một điểm cũng cần lưu ý trong năm 2026 là đối với người dưới 18 tuổi, pháp luật đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn. Điều 419 BLTTHS quy định chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết; việc tạm giữ, tạm giam chỉ được áp dụng khi có căn cứ cho rằng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Quy định này thể hiện cơ chế bảo vệ đặc thù đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.
TẠM GIỮ BAO LÂU? CÓ PHẢI CÔNG AN MUỐN GIỮ 09 NGÀY LÀ ĐƯỢC?
Theo Điều 118 BLTTHS, thời hạn tạm giữ ban đầu không quá 03 ngày kể từ thời điểm luật định. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ hai và cũng không quá 03 ngày. Như vậy, nếu cộng thời hạn ban đầu và hai lần gia hạn thì thời gian có thể đạt tối đa 09 ngày trong trường hợp pháp luật cho phép.
Nhưng cần đặc biệt lưu ý: 09 ngày không phải thời hạn mặc định của mọi trường hợp tạm giữ. Không phải cứ ra quyết định tạm giữ là cơ quan tiến hành tố tụng đương nhiên được giữ người đủ 09 ngày. Mỗi lần gia hạn phải có căn cứ và việc gia hạn phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn theo quy định. Nếu không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ thì phải xử lý theo quy định, chứ không được giữ một người chỉ vì “vẫn còn thời hạn”.
Việc tính thời hạn cũng đặc biệt quan trọng. Gia đình thường chỉ nhớ ngày người thân bị đưa đi nhưng không biết giờ bắt đầu giữ, trong khi quyết định tạm giữ phải xác định cả giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết hạn. Với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, hướng dẫn liên ngành còn quy định việc ra quyết định tạm giữ phải được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ hoặc nhận người bị giữ.
Nếu trong quá trình xác minh, cơ quan tiến hành tố tụng xác định không còn căn cứ để tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giữ thì người bị tạm giữ phải được xử lý theo đúng quy định. Do đó, gia đình không nên hiểu rằng “đã bị tạm giữ thì chắc chắn sau đó sẽ bị tạm giam”. Tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn khác nhau, có căn cứ, đối tượng, thẩm quyền và thời hạn khác nhau.
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?
Một người bị tạm giữ không mất đi các quyền tố tụng của mình. BLTTHS quy định người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ, được nhận quyết định tạm giữ và được giải thích về quyền, nghĩa vụ. Người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng theo quy định.
Trong giai đoạn này, quyền có người bào chữa đặc biệt quan trọng. Luật sư không chỉ xuất hiện tại phiên tòa. Việc người bào chữa tham gia từ giai đoạn đầu có ý nghĩa trong việc kiểm tra căn cứ bắt, giữ; bảo đảm quyền tố tụng; nghiên cứu những thông tin được pháp luật cho phép tiếp cận; tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định và chuẩn bị chứng cứ, tài liệu có lợi cho người bị buộc tội.
Người bị tạm giữ cũng cần tránh hai thái cực. Một là vì hoảng sợ mà ký vào tài liệu khi chưa đọc hoặc nội dung không đúng lời mình trình bày. Hai là cho rằng “im lặng hoàn toàn trong mọi tình huống mới có lợi” mà không hiểu đầy đủ quyền và chiến lược pháp lý của vụ việc. Cách phù hợp là hiểu rõ quyền của mình, trình bày trung thực những gì mình biết, đọc kỹ biên bản trước khi ký và yêu cầu sửa những nội dung ghi nhận không chính xác.
GIA ĐÌNH CẦN LÀM GÌ NGAY KHI NGƯỜI THÂN BỊ TẠM GIỮ?
Việc đầu tiên là xác định chính xác tình trạng pháp lý. Gia đình cần tìm hiểu người thân đang được mời làm việc, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hay đã có quyết định tạm giữ. Nếu đã bị tạm giữ, cần xác định cơ quan đang thụ lý, thời điểm bắt đầu tính thời hạn và lý do tạm giữ.
Tiếp theo, gia đình nên bảo toàn ngay các tài liệu có thể liên quan đến vụ việc: camera, tin nhắn, dữ liệu định vị, hóa đơn, hồ sơ bệnh án, chứng từ ngân hàng, tài liệu chứng minh người đó có mặt ở nơi khác, tài liệu về nhân thân hoặc những chứng cứ khác tùy tính chất vụ án. Không xóa dữ liệu, không yêu cầu người làm chứng khai theo một nội dung đã thống nhất, không che giấu đồ vật và không tiêu hủy chứng cứ. Những hành động với mục đích “giúp người thân” nhưng thực hiện sai cách có thể làm tình hình pháp lý phức tạp hơn.
Nếu vụ việc có tính chất nghiêm trọng hoặc gia đình không xác định được căn cứ bắt, giữ, nên mời luật sư tham gia ngay từ giai đoạn đầu, thay vì chờ đến khi có kết luận điều tra. Trong tố tụng hình sự, những lời khai và chứng cứ được hình thành trong những ngày đầu có thể có ảnh hưởng đáng kể đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
TẠM GIỮ VÀ TẠM GIAM KHÁC NHAU THẾ NÀO?
Đây là hai khái niệm thường xuyên bị dùng lẫn.
Tạm giữ được Điều 117 BLTTHS quy định đối với những nhóm người cụ thể như người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Thời hạn của tạm giữ tương đối ngắn và được quy định tại Điều 118.
Trong khi đó, tạm giam được Điều 119 BLTTHS điều chỉnh với căn cứ và điều kiện riêng, chủ yếu áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định. Vì vậy, không thể nói đơn giản rằng “hết 09 ngày tạm giữ thì đương nhiên chuyển sang tạm giam”. Muốn áp dụng tạm giam phải có căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tương ứng.
Cũng không thể suy luận rằng người được trả tự do sau thời gian tạm giữ thì vụ việc chắc chắn đã kết thúc. Tùy kết quả xác minh, người đó có thể được trả tự do nhưng quá trình giải quyết nguồn tin hoặc vụ án vẫn tiếp tục; ngược lại, nếu đủ căn cứ pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện những quyết định tố tụng tiếp theo.
LUẬT SƯ CÓ THỂ HỖ TRỢ GÌ KHI NGƯỜI THÂN BỊ TẠM GIỮ?
Trong một vụ việc hình sự, những giờ và những ngày đầu tiên sau khi bị bắt, giữ thường rất quan trọng. Công việc của luật sư trước hết là xác định chính xác tình trạng tố tụng của khách hàng: bị giữ theo căn cứ nào, đã có quyết định tạm giữ chưa, thời hạn bắt đầu từ thời điểm nào và cơ quan nào đang giải quyết.
Tiếp đó, luật sư rà soát tính hợp pháp của các quyết định, hướng dẫn gia đình thu thập và bảo toàn chứng cứ, thực hiện thủ tục đăng ký bào chữa, tham gia các hoạt động tố tụng trong phạm vi pháp luật cho phép và bảo vệ quyền của người bị tạm giữ. Trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi tố tụng trái pháp luật, luật sư có thể tư vấn việc thực hiện quyền khiếu nại theo đúng trình tự.
Quan trọng hơn, luật sư cần đánh giá vụ việc dựa trên chứng cứ, không phải chỉ dựa trên việc người đó đang bị giữ. Có trường hợp cần tập trung chứng minh người bị giữ không thực hiện hành vi; có trường hợp tranh luận về tội danh, vai trò đồng phạm; có trường hợp trọng tâm lại nằm ở việc chứng minh tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc các tình tiết có lợi khác.
KẾT LUẬN: BỊ TẠM GIỮ KHÔNG ĐỒNG NGHĨA ĐÃ CÓ TỘI
Có thể ghi nhớ ngắn gọn: theo Điều 117 BLTTHS, tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang; người phạm tội tự thú, đầu thú; người bị bắt theo quyết định truy nã.
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn, không phải hình phạt và không phải bản án kết tội.
Thời hạn tạm giữ ban đầu không quá 03 ngày; trường hợp cần thiết có thể gia hạn lần thứ nhất không quá 03 ngày; trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ hai không quá 03 ngày. Việc gia hạn phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Vì vậy, 09 ngày là mức tối đa có thể phát sinh qua các lần gia hạn theo luật, không phải cứ bị tạm giữ là mặc nhiên bị giữ đủ 09 ngày.
Khi một người thân bị bắt, đừng chỉ hỏi: “BAO GIỜ ĐƯỢC VỀ?” Hãy xác định ngay: BỊ BẮT, GIỮ THEO CĂN CỨ NÀO → ĐÃ CÓ QUYẾT ĐỊNH TẠM GIỮ CHƯA → TẠM GIỮ TỪ MẤY GIỜ, NGÀY NÀO → HẾT HẠN KHI NÀO → ĐÃ GIA HẠN CHƯA → AI PHÊ CHUẨN → LUẬT SƯ ĐÃ THAM GIA CHƯA. Đó mới là những câu hỏi giúp kiểm soát đúng tính hợp pháp của việc tạm giữ và bảo vệ quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ngay từ giai đoạn đầu.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, trọng tâm Điều 110 về giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Điều 111 về bắt người phạm tội quả tang; Điều 117 về tạm giữ; Điều 118 về thời hạn tạm giữ; Điều 119 về tạm giam; đối với người dưới 18 tuổi cần lưu ý thêm quy định tố tụng đặc thù. Từ ngày 01/01/2026, Luật Tư pháp người chưa thành niên cũng đã có hiệu lực với các quy định chuyển tiếp liên quan đến tố tụng đối với người chưa thành niên.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
