“Tôi từng bị kết án cách đây nhiều năm, bây giờ xin việc có bị phát hiện không?”, “Từng hưởng án treo thì lý lịch tư pháp có ghi không?”, “Đã xóa án tích rồi có còn bị coi là có tiền án không?”, “Công ty yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp thì bản án cũ có xuất hiện không?”… Đây là những câu hỏi rất thường gặp đối với người đã từng vướng vào một vụ án hình sự.
Không ít người cho rằng một khi đã phạm tội thì thông tin đó sẽ vĩnh viễn hiện trên mọi loại lý lịch. Ngược lại, cũng có người nghĩ rằng chỉ cần chấp hành xong hình phạt tù, nộp phạt xong hoặc hết thời gian thử thách án treo thì ngay lập tức mọi thông tin về bản án sẽ biến mất.
Cả hai cách hiểu trên đều chưa chính xác.
Muốn trả lời đúng câu hỏi “Từng phạm tội có lưu vào lý lịch không?”, trước tiên phải phân biệt ít nhất ba vấn đề: thông tin về bản án có được cơ quan nhà nước quản lý hay không; người đó hiện còn án tích hay đã được xóa án tích; và khi xin Phiếu lý lịch tư pháp thì đang xin Phiếu số 1 hay Phiếu số 2. Đây là ba vấn đề liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau.
Đặc biệt, Điều 69 Bộ luật Hình sự quy định rất rõ: người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án. Tuy nhiên, Luật Lý lịch tư pháp lại có sự khác biệt rất quan trọng giữa Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2. Phiếu số 1 trong trường hợp đủ điều kiện có thể ghi “không có án tích”, trong khi Phiếu số 2 có thể thể hiện cả án tích đã được xóa và thời điểm xóa án tích. Vì vậy, nếu từng bị kết án, điều quan trọng không phải chỉ hỏi “hồ sơ của tôi còn lưu không?”, mà phải xác định “tôi còn án tích hay không và thông tin nào sẽ xuất hiện trên loại giấy tờ tôi đang cần?”
TỪNG PHẠM TỘI CÓ BỊ LƯU THÔNG TIN TRONG LÝ LỊCH TƯ PHÁP KHÔNG?
Trước hết cần sử dụng thuật ngữ cho chính xác. Không phải cứ từng bị Công an mời làm việc, từng bị tố giác, từng bị khởi tố hoặc từng là bị can thì đương nhiên được coi là người “có án tích”. Luật Lý lịch tư pháp xác định lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và một số thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Điều này có ý nghĩa rất lớn. Ví dụ, A từng bị khởi tố nhưng sau đó vụ án được đình chỉ và A không bị Tòa án kết án thì không thể chỉ vì từng bị khởi tố mà kết luận A có án tích. Tương tự, một người từng bị Công an xử phạt vi phạm hành chính về đánh nhau, gây rối hoặc hành vi khác cũng không vì quyết định xử phạt hành chính đó mà đương nhiên trở thành người có án tích. Án tích gắn với việc bị kết án hình sự, không phải mọi lần làm việc với cơ quan Công an.
Ngược lại, nếu một người đã bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực thì thông tin liên quan đến bản án, tội danh, hình phạt và tình trạng thi hành án thuộc phạm vi thông tin lý lịch tư pháp được quản lý theo pháp luật. Việc sau này được xóa án tích không nên được hiểu đơn giản là cơ quan nhà nước phải “xóa sạch mọi dấu vết dữ liệu” về bản án khỏi hệ thống. Ý nghĩa pháp lý quan trọng nhất của xóa án tích nằm ở tình trạng án tích và hậu quả pháp lý của bản án đối với người đã được xóa án tích.
Đây cũng chính là nguyên nhân khiến có trường hợp một người xin giấy tờ thông thường thấy kết quả “không có án tích”, nhưng khi tự yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp số 2 lại có thể thấy thông tin về bản án trước đây. Hai kết quả này không nhất thiết mâu thuẫn với nhau.
ĐÃ CHẤP HÀNH XONG HÌNH PHẠT CÓ ĐỒNG NGHĨA ĐÃ XÓA ÁN TÍCH KHÔNG?
Không phải cứ ra tù hoặc hết án treo là ngay lập tức được coi là đã xóa án tích. Điều 69 Bộ luật Hình sự quy định người bị kết án được xóa án tích theo các Điều 70 đến 73 và người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Đồng thời, người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt thuộc trường hợp luật quy định không bị coi là có án tích.
Đối với trường hợp đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 BLHS, pháp luật đặt ra những điều kiện và thời hạn cụ thể. Với người bị kết án không thuộc các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI BLHS, sau khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, đồng thời chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn luật định thì được đương nhiên xóa án tích. Thời hạn hiện hành là 01 năm đối với cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm đối với phạt tù đến 05 năm; 03 năm đối với phạt tù trên 05 năm đến 15 năm; và 05 năm đối với phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Ví dụ, một người bị phạt 02 năm tù thì không thể hiểu rằng ngày ra khỏi trại giam cũng chính là ngày án tích tự động biến mất. Cần kiểm tra người đó đã chấp hành các nghĩa vụ khác của bản án hay chưa và thời hạn theo Điều 70 đã kết thúc chưa. Việc tính thời hạn trong trường hợp còn hình phạt bổ sung có thời hạn dài hơn cũng phải áp dụng đúng quy định của Điều 70, không nên chỉ lấy ngày ra tù rồi tự cộng số năm một cách máy móc.
Đặc biệt, đối với các tội thuộc Chương XIII – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và Chương XXVI – Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, việc xóa án tích thuộc trường hợp do Tòa án quyết định theo Điều 71 khi đáp ứng điều kiện luật định, chứ không áp dụng cơ chế đương nhiên xóa án tích của Điều 70.
Vì vậy, muốn biết một người hiện nay còn tiền án hay không, không thể chỉ hỏi “đã thi hành án xong chưa?” mà phải xác định chính xác tội danh, hình phạt, ngày hoàn thành hình phạt, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, có phạm tội mới hay không và trường hợp xóa án tích áp dụng là trường hợp nào.
ĐÃ XÓA ÁN TÍCH RỒI, PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP CÓ CÒN GHI BẢN ÁN CŨ KHÔNG?
Đây chính là phần quan trọng nhất của vấn đề. Theo Luật Lý lịch tư pháp, hiện có Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Hai loại phiếu có phạm vi thể hiện thông tin về án tích khác nhau. Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 1, nếu người bị kết án chưa đủ điều kiện xóa án tích thì Phiếu ghi tình trạng “có án tích” cùng những thông tin tương ứng theo luật. Trong khi đó, đối với người đã được xóa án tích và thông tin về việc xóa án tích đã được cập nhật vào lý lịch tư pháp thì về nguyên tắc Phiếu số 1 thể hiện theo cơ chế của pháp luật dành cho người đã được xóa án tích, tức không tiếp tục thể hiện án tích cũ như một án tích đang tồn tại. Luật Lý lịch tư pháp gắn Phiếu số 1 với việc xác nhận tình trạng án tích hiện tại của cá nhân.
Nhưng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 hoàn toàn khác. Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp quy định đối với người đã bị kết án, Phiếu số 2 ghi đầy đủ án tích đã được xóa, thời điểm được xóa án tích, án tích chưa được xóa, cùng các thông tin về bản án như ngày tuyên án, số bản án, Tòa án xét xử, tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự, án phí và tình trạng thi hành án.
Ví dụ, anh A từng bị kết án năm 2019 và đến năm 2024 đã đủ điều kiện được xóa án tích. Khi thuộc trường hợp pháp luật ghi nhận đã xóa án tích, về mặt pháp lý A được coi như chưa bị kết án theo Điều 69 BLHS. Nhưng nếu A tự yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 để biết đầy đủ lý lịch tư pháp của mình, bản án đã được xóa án tích vẫn có thể được thể hiện cùng thời điểm xóa án tích theo Điều 43.
Do đó, câu nói “xóa án tích rồi thì hồ sơ hoàn toàn không còn thông tin gì về bản án” là không chính xác. Nhưng nói “xóa án tích rồi vẫn bị coi là có tiền án” cũng sai. Cần phân biệt giữa việc thông tin lịch sử còn được quản lý/thể hiện trong trường hợp luật định với tình trạng pháp lý hiện tại của người đã được xóa án tích.
TỪNG HƯỞNG ÁN TREO CÓ BỊ GHI VÀO LÝ LỊCH TƯ PHÁP KHÔNG?
Có một quan niệm rất phổ biến rằng: “Án treo nghĩa là không đi tù nên không có tiền án.” Cách hiểu này không chính xác. Án treo không phải là việc Tòa án tuyên người đó vô tội. Về bản chất, người phạm tội vẫn bị Tòa án tuyên hình phạt tù, nhưng nếu đáp ứng điều kiện thì được cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Vì vậy, việc được hưởng án treo không đồng nghĩa với việc chưa từng bị kết án.
Tuy nhiên, Điều 70 BLHS quy định người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo thuộc nhóm có thời hạn 01 năm để đương nhiên được xóa án tích, tính theo điều kiện của điều luật từ khi hết thời gian thử thách, với điều kiện đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn đó.
Ví dụ, một người bị phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng. Không thể chỉ nhìn vào việc người này không phải vào trại giam rồi khẳng định “không có án tích”. Phải xem thời gian thử thách đã kết thúc chưa, các nghĩa vụ khác đã hoàn thành chưa và đã đủ thời hạn xóa án tích theo Điều 70 hay chưa.
Khi đã đủ điều kiện đương nhiên xóa án tích, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình trạng án tích và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích nếu đủ điều kiện luật định. Vì vậy, án treo vẫn là một bản án hình sự, nhưng án tích không tồn tại vĩnh viễn. Đây là hai vấn đề phải được phân biệt rõ.
ĐÃ XÓA ÁN TÍCH THÌ KHI XIN VIỆC, ĐI NƯỚC NGOÀI CÓ PHẢI KHAI MÌNH “TỪNG PHẠM TỘI” KHÔNG?
Đây là câu hỏi không thể trả lời bằng một chữ “có” hoặc “không” cho mọi trường hợp. Nếu một cơ quan, doanh nghiệp chỉ yêu cầu chứng minh hiện tại có án tích hay không, thì tình trạng pháp lý sau khi được xóa án tích có ý nghĩa quyết định. Điều 69 BLHS quy định người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án.
Tuy nhiên, nếu một biểu mẫu cụ thể hỏi về lịch sử đã từng bị bắt, bị truy tố, bị kết án hoặc vi phạm pháp luật, thì phải đọc đúng nội dung câu hỏi và tuân thủ quy định của thủ tục đó. Đặc biệt đối với hồ sơ visa, nhập cư hoặc thủ tục của nước ngoài, không nên suy luận rằng “được xóa án tích theo pháp luật Việt Nam” đồng nghĩa với việc được quyền trả lời “chưa từng bị kết án” đối với mọi câu hỏi của cơ quan nước ngoài. Mỗi quốc gia và mỗi thủ tục có thể yêu cầu phạm vi thông tin khác nhau.
Tương tự, trong hồ sơ xin việc, cần phân biệt sơ yếu lý lịch thông thường với Phiếu lý lịch tư pháp. Đây không phải cùng một loại giấy tờ. Một bản sơ yếu lý lịch cá nhân không phải là Phiếu lý lịch tư pháp và không có chức năng pháp lý giống Phiếu lý lịch tư pháp.
Nếu cơ quan tuyển dụng yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp thì cần xác định họ yêu cầu loại giấy tờ nào và căn cứ của yêu cầu đó. Đặc biệt, người lao động không nên tự động xin Phiếu số 2 chỉ vì nghĩ rằng “số 2 đầy đủ hơn nên tốt hơn”. Phiếu số 2 có phạm vi thông tin rất sâu, bao gồm cả án tích đã được xóa trong trường hợp người đã từng bị kết án. Vì vậy, với người đã từng bị kết án, trước khi thực hiện hồ sơ xin việc, giấy phép nghề nghiệp, xuất cảnh, visa hoặc thủ tục khác, nên xác định rõ cơ quan tiếp nhận thực sự yêu cầu chứng minh điều gì thay vì tự suy đoán.
BỊ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH CÓ BỊ COI LÀ CÓ ÁN TÍCH KHÔNG?
Đây là điểm rất nhiều người lo lắng không cần thiết. Án tích gắn với người bị kết án hình sự bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, một quyết định xử phạt vi phạm hành chính không phải là bản án hình sự và không làm người bị xử phạt trở thành người có án tích theo nghĩa của Bộ luật Hình sự và Luật Lý lịch tư pháp.
Ví dụ, một người bị phạt hành chính vì đánh nhau nhưng hành vi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đó không vì quyết định xử phạt này mà có “tiền án”. Tương tự, từng bị xử phạt hành chính về một vi phạm khác cũng không đồng nghĩa Phiếu lý lịch tư pháp sẽ ghi người đó “có án tích”.
Tuy nhiên, không có án tích không đồng nghĩa mọi dữ liệu về vi phạm hành chính đều không được cơ quan nhà nước quản lý. Đây lại là một vấn đề khác. Vì vậy, cần tránh đánh đồng “có thông tin trong hệ thống quản lý của cơ quan nhà nước” với “có án tích trên lý lịch tư pháp”.
TỪNG BỊ KHỞI TỐ NHƯNG SAU ĐÓ ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN THÌ CÓ ÁN TÍCH KHÔNG?
Về nguyên tắc, không thể chỉ vì từng bị khởi tố mà coi một người là có án tích. Một người có thể từng bị khởi tố bị can nhưng sau quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền xác định có căn cứ đình chỉ; hoặc vụ án trải qua những diễn biến tố tụng khác mà cuối cùng người đó không bị kết án bằng bản án hình sự có hiệu lực. Trong trường hợp đó, việc từng mang tư cách bị can không tự nó tạo thành án tích.
Tương tự, việc Công an từng triệu tập, mời làm việc, lấy lời khai hoặc tiếp nhận đơn tố giác liên quan đến một cá nhân không có nghĩa người đó đã có tiền án. Đây là lý do khi được hỏi “Tôi từng dính vụ hình sự, có lưu lý lịch không?”, luật sư cần hỏi lại chính xác diễn biến pháp lý: người đó chỉ được mời làm việc, đã bị khởi tố bị can, đã bị truy tố hay đã có bản án có hiệu lực? Nếu đã có bản án thì hình phạt là gì và hiện đã được xóa án tích chưa? Chỉ cần khác nhau ở một trong những dữ kiện này, kết luận pháp lý có thể hoàn toàn khác.
XÓA ÁN TÍCH CÓ Ý NGHĨA GÌ ĐỐI VỚI NGƯỜI TỪNG PHẠM TỘI?
Quy định về xóa án tích thể hiện chính sách tạo điều kiện cho người đã chấp hành bản án có cơ hội tái hòa nhập xã hội. Điều 69 BLHS sử dụng một quy định rất quan trọng: Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Điều này có ý nghĩa pháp lý thực tế, chứ không chỉ mang tính hình thức. Tình trạng án tích có thể liên quan đến việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm và nhiều hậu quả pháp lý khác trong những trường hợp luật quy định. Khi án tích đã được xóa, không thể tiếp tục đối xử với người đó như thể án tích vẫn còn tồn tại.
Nhưng cần nhấn mạnh một lần nữa: “coi như chưa bị kết án” không đồng nghĩa “mọi dữ liệu lịch sử về bản án phải biến mất khỏi tất cả cơ sở dữ liệu”. Chính việc Phiếu lý lịch tư pháp số 2 có thể ghi đầy đủ cả án tích đã được xóa và thời điểm xóa cho thấy hai khái niệm này khác nhau.
Vì vậy, khi một người muốn biết quá khứ phạm tội có ảnh hưởng đến hồ sơ hiện tại hay không, câu hỏi cần được chuyển từ: “Bản án còn lưu không?” sang: “Hiện tại tôi còn án tích không, và thủ tục tôi chuẩn bị thực hiện yêu cầu loại thông tin nào?” Đó mới là cách tiếp cận chính xác.
LUẬT SƯ CÔNG TÂM HỖ TRỢ GÌ KHI CẦN KIỂM TRA ÁN TÍCH VÀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP?
Đối với người đã từng bị kết án, việc tự tính thời điểm xóa án tích đôi khi dễ nhầm, đặc biệt khi bản án có đồng thời hình phạt tù, phạt tiền, án phí, bồi thường, hình phạt bổ sung hoặc người đó từng có nhiều bản án.
Luật sư có thể rà soát bản án, quyết định thi hành án, giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù, thời gian thử thách án treo, việc thực hiện hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự, án phí và những tài liệu liên quan để xác định trường hợp của người bị kết án thuộc đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án hay trường hợp khác.
Đối với người chuẩn bị xin việc, làm thủ tục nghề nghiệp hoặc thực hiện hồ sơ có yêu cầu về lý lịch tư pháp, luật sư có thể giúp phân biệt Phiếu số 1 và Phiếu số 2, tránh trường hợp tự cung cấp nhiều thông tin hơn phạm vi thực sự cần thiết.
Đặc biệt, nếu Phiếu lý lịch tư pháp thể hiện tình trạng án tích không phù hợp với việc người đó cho rằng mình đã đủ điều kiện được xóa án tích, cần kiểm tra hồ sơ thi hành án và tình trạng cập nhật dữ liệu trước khi kết luận cơ quan cấp phiếu sai.
TỪNG PHẠM TỘI KHÔNG CÓ NGHĨA “MANG TIỀN ÁN SUỐT ĐỜI”
Câu trả lời chính xác cho câu hỏi “Từng phạm tội có lưu vào lý lịch không?” là: Thông tin về một bản án hình sự có thể được quản lý trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, nhưng việc một người hiện nay có bị coi là có án tích hay không lại phụ thuộc vào tình trạng xóa án tích theo pháp luật.
Nếu người đó chưa được xóa án tích, Phiếu lý lịch tư pháp số 1 có thể thể hiện tình trạng có án tích theo quy định. Nếu đã đủ điều kiện và được xóa án tích thì Điều 69 BLHS xác định người đó được coi như chưa bị kết án. Nhưng cần nhớ một điểm đặc biệt: XÓA ÁN TÍCH ≠ XÓA SẠCH MỌI THÔNG TIN LỊCH SỬ VỀ BẢN ÁN. Phiếu lý lịch tư pháp số 2 có thể thể hiện cả án tích đã được xóa và thời điểm được xóa án tích. Đây là lý do không nên đánh đồng việc “cơ quan nhà nước còn lưu thông tin” với việc “người đó vẫn còn tiền án”.
Đồng thời, từng bị xử phạt hành chính, từng bị Công an mời làm việc hoặc từng bị khởi tố nhưng không bị kết án không đồng nghĩa với có án tích. Muốn xác định chính xác phải căn cứ vào kết quả cuối cùng của vụ án và tình trạng pháp lý của bản án. Vì vậy, nếu từng vướng vào một vụ án hình sự và hiện đang lo lắng về xin việc, Phiếu lý lịch tư pháp, thủ tục nghề nghiệp hoặc hồ sơ đi nước ngoài, hãy kiểm tra lần lượt: CÓ BẢN ÁN HÌNH SỰ CÓ HIỆU LỰC HAY KHÔNG → ĐÃ CHẤP HÀNH XONG BẢN ÁN CHƯA → ĐÃ ĐỦ ĐIỀU KIỆN XÓA ÁN TÍCH CHƯA → ĐANG CẦN PHIẾU LÝ LỊCH TƯ PHÁP LOẠI NÀO. Chỉ bốn câu hỏi này đã giúp tránh được phần lớn những nhầm lẫn về việc “từng phạm tội có lưu vào lý lịch hay không”.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
🌐 Website Luật Công Tâm
📧 Email: [email protected]
