Khi một vụ án hình sự xảy ra, đặc biệt là các vụ cố ý gây thương tích, tai nạn giao thông, lừa đảo, tham ô, trộm cắp, hủy hoại tài sản hoặc các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhiều người cho rằng chỉ cần khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại thì vụ án sẽ kết thúc. Thậm chí, có gia đình vay mượn một khoản tiền rất lớn để bồi thường với suy nghĩ: “Đã trả hết tiền rồi thì chắc không phải đi tù nữa.”
Nhưng đến phiên tòa, bị cáo vẫn bị tuyên phạt tù. Điều này khiến nhiều người khó hiểu: Thiệt hại đã được khắc phục 100%, bị hại đã nhận đủ tiền, thậm chí còn viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt, tại sao Tòa án vẫn phạt tù? Nguyên nhân nằm ở một điểm pháp lý rất quan trọng: bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự là hai vấn đề có liên quan nhưng không đồng nhất. Việc trả lại tài sản, sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thường là căn cứ có lợi khi quyết định hình phạt, nhưng không mặc nhiên xóa bỏ hành vi phạm tội đã xảy ra.
Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, trường hợp “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Chính cách quy định này cho thấy về nguyên tắc, pháp luật xác định việc bồi thường là tình tiết để xem xét giảm nhẹ, chứ không phải cứ bồi thường toàn bộ là đương nhiên không còn trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, muốn biết một người sau khi đã bồi thường toàn bộ có còn phải đi tù hay không phải xem xét tổng thể: tội danh, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, khung hình phạt, hậu quả, nhân thân, các tình tiết tăng nặng – giảm nhẹ, thái độ sau khi phạm tội và điều kiện để áp dụng các chính sách khoan hồng khác.
Bồi thường toàn bộ thiệt hại có đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự không?
Một hành vi khi đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì trách nhiệm hình sự được xác định theo Bộ luật Hình sự. Việc người phạm tội sau đó trả lại tiền, bồi thường viện phí, khắc phục tài sản hoặc thanh toán toàn bộ thiệt hại không làm cho hành vi đã xảy ra tự động biến mất. Điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Điều này có ý nghĩa rất lớn khi Tòa án lượng hình. Tuy nhiên, bản chất pháp lý vẫn là giảm nhẹ trách nhiệm, không phải đương nhiên loại trừ trách nhiệm.
Ví dụ, A thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho B. Sau khi vụ án được khởi tố, A thanh toán toàn bộ chi phí điều trị, thu nhập bị mất và các khoản bồi thường khác cho B. Việc bồi thường này là yếu tố quan trọng có lợi cho A, nhưng không đồng nghĩa hành vi cố ý gây thương tích trước đó chưa từng xảy ra. Nếu đủ căn cứ cấu thành tội phạm và không thuộc trường hợp đình chỉ hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo luật, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.
Tương tự, trong một vụ án chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã chiếm đoạt 500 triệu đồng rồi sau khi bị phát hiện hoàn trả đủ 500 triệu đồng. Việc hoàn trả tài sản có thể được xem xét rất tích cực khi quyết định hình phạt, nhưng không thể đơn giản suy luận “đã trả tiền nên không còn tội chiếm đoạt”. Việc xác định tội phạm phải căn cứ vào hành vi, ý thức chủ quan và các yếu tố cấu thành tại thời điểm thực hiện hành vi. Do đó, cần phân biệt rõ ba vấn đề: bồi thường thiệt hại; miễn trách nhiệm hình sự; miễn chấp hành hoặc giảm nhẹ hình phạt. Đây là những chế định có điều kiện pháp lý khác nhau.
Vì sao đã bồi thường 100% nhưng Tòa án vẫn có thể phạt tù?
Lý do quan trọng nhất là khi quyết định hình phạt, Tòa án không chỉ nhìn vào việc hậu quả vật chất đã được khắc phục hay chưa. Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy, bồi thường chỉ là một bộ phận trong toàn bộ quá trình lượng hình.
Ví dụ, hai người cùng gây thiệt hại 300 triệu đồng và đều bồi thường đủ trước phiên tòa nhưng mức hình phạt có thể hoàn toàn khác nhau. Một người phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, chủ động bồi thường ngay sau khi xảy ra sự việc và được bị hại xin giảm nhẹ. Người còn lại giữ vai trò chủ mưu, hành vi có tổ chức, thực hiện nhiều lần hoặc có tình tiết tăng nặng. Không thể chỉ vì cả hai cùng “đã trả đủ 300 triệu” mà hình phạt phải giống nhau.
Đặc biệt, đối với những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, trật tự xã hội hoặc tài sản có giá trị lớn, hậu quả của tội phạm không phải lúc nào cũng có thể được “xóa” hoàn toàn bằng tiền. Một người bị thương tích nặng có thể được thanh toán đầy đủ viện phí nhưng những tổn thương về sức khỏe vẫn tồn tại. Một vụ án gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội cũng không chỉ tạo ra thiệt hại cho một cá nhân cụ thể. Đó là lý do bồi thường toàn bộ không đồng nghĩa mua lại quyền miễn hình phạt tù. Tòa án phải đặt việc bồi thường bên cạnh toàn bộ tính chất của hành vi và yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm để lựa chọn hình phạt phù hợp.
Bồi thường toàn bộ được xem xét giảm nhẹ như thế nào?
Mặc dù không mặc nhiên giúp người phạm tội tránh án tù, bồi thường vẫn là một trong những yếu tố rất quan trọng khi xin giảm nhẹ hình phạt. Điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS ghi nhận tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Nếu người phạm tội đồng thời có thêm các tình tiết như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm, lập công chuộc tội hoặc có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác thì vị thế khi lượng hình có thể thuận lợi hơn đáng kể. Đặc biệt, Điều 54 Bộ luật Hình sự cho phép trong những điều kiện luật định, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Vì vậy, việc xây dựng đầy đủ hệ thống tình tiết giảm nhẹ có thể tác động rất lớn đến mức án cuối cùng.
Ví dụ, một bị cáo thuộc khung hình phạt có mức thấp nhất là 03 năm tù không có nghĩa trong mọi trường hợp Tòa án bắt buộc phải tuyên ít nhất 03 năm. Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện của Điều 54, Tòa án có cơ sở pháp lý để xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung theo quy định.
Tuy nhiên, cần tránh suy nghĩ rằng “bồi thường đủ = chắc chắn được xử dưới khung”. Điều 54 có các điều kiện riêng. Việc có một tình tiết bồi thường không tự động làm phát sinh quyền được xử dưới khung. Giá trị của việc bồi thường phải được đặt trong tổng thể các tình tiết của từng vụ án.
Bị hại đã nhận tiền và xin giảm án thì bị cáo có được hưởng án treo không?
Không đương nhiên. Trong thực tế, nhiều gia đình sau khi bồi thường thường đề nghị bị hại lập đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tài liệu có lợi và Tòa án có thể xem xét khi lượng hình. Tuy nhiên, ý kiến của bị hại không quyết định thay Tòa án.
Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về án treo đối với người bị xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án có thể cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Việc áp dụng án treo còn phải được xem xét theo các điều kiện và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP. Do đó, muốn được hưởng án treo, trước hết mức hình phạt tù mà Tòa án quyết định phải không quá 03 năm; sau đó mới tiếp tục xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú hoặc nơi làm việc và các điều kiện khác.
Ví dụ, bị hại nhận đủ tiền và viết đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo nhưng sau khi đánh giá vụ án, Tòa án quyết định mức hình phạt 05 năm tù. Khi đó, điều kiện cơ bản về mức hình phạt để xem xét án treo đã không đáp ứng.
Ngược lại, nếu bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, thành khẩn khai báo, được bị hại xin giảm nhẹ và đáp ứng các điều kiện luật định thì những yếu tố này có thể tạo cơ sở thuận lợi hơn để luật sư đề nghị Tòa án xem xét mức hình phạt thấp và án treo.
Trường hợp nào bồi thường có thể tạo cơ sở để được miễn trách nhiệm hình sự?
Đây là điểm cần phân biệt rất kỹ. Bồi thường thông thường theo Điều 51 chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, việc khắc phục hậu quả có thể là một trong những điều kiện để xem xét chế định miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự.
Khoản 3 Điều 29 BLHS quy định trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, nếu đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Điểm cần nhấn mạnh là điều luật sử dụng cụm từ “có thể được miễn”, chứ không phải “đương nhiên được miễn”. Đồng thời, phạm vi áp dụng cũng bị giới hạn về loại tội phạm và các điều kiện đi kèm. Không thể lấy quy định này để suy luận rằng bất kỳ bị can nào chỉ cần trả hết tiền và được bị hại tha thứ thì Cơ quan điều tra bắt buộc phải đình chỉ.
Ví dụ, một người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, đã chủ động bồi thường toàn bộ, hai bên tự nguyện hòa giải và bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì luật sư cần kiểm tra đầy đủ điều kiện của khoản 3 Điều 29 để đề nghị áp dụng. Nhưng nếu hành vi thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng không thuộc phạm vi của quy định này thì không thể áp dụng chỉ vì hậu quả đã được khắc phục.
Do đó, trước khi nói “bồi thường để được miễn hình sự”, phải xác định chính xác tội danh, lỗi cố ý hay vô ý và phân loại tội phạm.
Bị hại rút đơn sau khi được bồi thường thì vụ án có chấm dứt không?
Không phải mọi vụ án đều chấm dứt khi bị hại rút đơn. Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định một số trường hợp vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại theo luật định. Đối với nhóm tội phạm này, ý chí của người có quyền yêu cầu khởi tố có ảnh hưởng đặc biệt đến việc khởi tố và tiếp tục giải quyết vụ án.
Nếu thuộc đúng trường hợp Điều 155 và người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu, vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức. Nhưng đây chỉ là nhóm tội danh luật quy định cụ thể. Đối với phần lớn các tội phạm khác, dù bị hại đã nhận đủ tiền, hai bên hòa giải và bị hại tuyên bố “không kiện nữa”, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có thể tiếp tục điều tra, truy tố và xét xử nếu có đủ căn cứ.
Đây là lý do có những vụ án gia đình đã thỏa thuận xong về tiền bạc, bị hại cũng không còn yêu cầu gì nhưng bị can vẫn bị truy tố. Sai lầm phổ biến là đồng nhất “rút đơn tố giác”, “rút yêu cầu khởi tố” và “đề nghị giảm nhẹ hình phạt”. Ba hành vi này có hậu quả pháp lý khác nhau.
Bồi thường vào thời điểm nào có lợi nhất cho người phạm tội?
Nếu xác định có trách nhiệm bồi thường và có khả năng khắc phục, về chiến lược pháp lý, việc chủ động thực hiện càng sớm thường càng có giá trị thể hiện thái độ khắc phục hậu quả. Một người ngay sau khi sự việc xảy ra chủ động đưa nạn nhân đi cấp cứu, thanh toán viện phí, liên hệ gia đình xin lỗi và bồi thường thường thể hiện thái độ rất khác với trường hợp chỉ đến sát ngày xét xử, sau khi được giải thích rằng nếu không bồi thường có thể chịu mức án nặng hơn, mới miễn cưỡng thanh toán.
Tuy nhiên, pháp luật không quy định rằng bồi thường muộn thì tuyệt đối không được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Việc khắc phục ở giai đoạn điều tra, truy tố hoặc trước xét xử vẫn có thể được xem xét tùy từng trường hợp. Điều quan trọng là phải chứng minh được việc bồi thường thực tế đã xảy ra. Nên có giấy giao nhận tiền, chứng từ chuyển khoản, biên bản thỏa thuận bồi thường hoặc tài liệu khác xác nhận rõ số tiền, mục đích thanh toán và người nhận.
Đối với những vụ án mà bị hại từ chối nhận tiền, người phạm tội cũng không nên vì vậy mà bỏ mặc hoàn toàn nghĩa vụ khắc phục. Cần trao đổi với luật sư để lựa chọn phương thức phù hợp nhằm thể hiện rõ thiện chí và lưu lại chứng cứ về quá trình chủ động khắc phục.
Gia đình bồi thường thay cho bị can, bị cáo có được tính giảm nhẹ không?
Đây là tình huống xảy ra rất thường xuyên, nhất là khi bị can đang bị tạm giam nên không thể trực tiếp đi gặp bị hại hoặc thực hiện giao dịch. Trong thực tiễn xét xử, việc cha mẹ, vợ chồng hoặc người thân của bị can, bị cáo chủ động bồi thường thay có thể được xem xét khi đánh giá tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải xem xét cụ thể ý chí của người phạm tội và hoàn cảnh thực hiện việc bồi thường.
Nếu bị can đang bị tạm giam nhưng đã đề nghị gia đình thay mình bồi thường, gia đình thực hiện đầy đủ và có tài liệu chứng minh thì đây là cơ sở quan trọng để luật sư đề nghị ghi nhận việc khắc phục hậu quả. Vì vậy, gia đình không nên chỉ giao tiền bằng miệng rồi cho rằng “bị hại biết là được”. Cần có chứng từ rõ ràng. Nếu bị hại viết đơn xác nhận đã nhận đủ tiền, không còn yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can, bị cáo thì nên nộp tài liệu đó cho cơ quan đang giải quyết vụ án.
Đặc biệt, cần phân biệt giữa bồi thường theo nghĩa vụ pháp luật và khoản tiền tự nguyện hỗ trợ thêm. Nếu gia đình chi trả nhiều khoản, văn bản nên thể hiện rõ nội dung từng khoản để tránh tranh chấp sau này về việc bị hại đã nhận đủ hay chưa.
Làm thế nào để việc bồi thường phát huy tối đa giá trị khi xin giảm hình phạt?
Sai lầm lớn nhất là coi bồi thường như một giao dịch: “Tôi đưa đủ tiền thì anh phải rút đơn và Tòa phải cho tôi án treo.” Pháp luật không vận hành theo cách đó. Trước hết, việc bồi thường phải thực sự tự nguyện và được chứng minh bằng tài liệu. Luật sư cần tập hợp giấy chuyển tiền, biên bản giao nhận, thỏa thuận bồi thường, đơn xác nhận của bị hại và các chứng cứ về việc người phạm tội chủ động khắc phục hậu quả.
Tiếp theo, phải xây dựng toàn bộ hệ thống tình tiết giảm nhẹ, chứ không đặt tất cả kỳ vọng vào một tình tiết bồi thường. Cần kiểm tra người phạm tội có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hay không; có phạm tội lần đầu trong trường hợp luật định không; có thành tích trong công tác hay không; hoàn cảnh gia đình, nhân thân và những tình tiết khác có được xem xét theo Điều 51 hay không.
Nếu có từ hai tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 và đáp ứng các điều kiện khác, cần nghiên cứu khả năng đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung.
Nếu mức hình phạt dự kiến không quá 03 năm tù và đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiếp tục đánh giá Điều 65 BLHS và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, được sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, để đề nghị án treo.
Nếu vụ án thuộc trường hợp đặc biệt của Điều 29 BLHS, cần xem xét khả năng miễn trách nhiệm hình sự. Nếu thuộc nhóm khởi tố theo yêu cầu của bị hại, phải kiểm tra Điều 155 BLTTHS.
Như vậy, bồi thường là một mắt xích quan trọng trong chiến lược xin khoan hồng, nhưng không phải mắt xích duy nhất.
Kết luận
Bồi thường toàn bộ thiệt hại không đồng nghĩa chắc chắn được miễn trách nhiệm hình sự và càng không đồng nghĩa chắc chắn không phải đi tù. Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, việc người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả trước hết là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn phải căn cứ Điều 50 BLHS để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và toàn bộ hoàn cảnh của vụ án.
Vì vậy, hai bị cáo cùng bồi thường 100% thiệt hại không có nghĩa sẽ nhận cùng một mức án. Người phạm tội lần đầu, chủ động khắc phục ngay, thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt và được bị hại xin giảm nhẹ có vị thế lượng hình hoàn toàn khác người giữ vai trò chủ mưu, phạm tội có tổ chức, nhiều lần hoặc có nhiều tình tiết tăng nặng.
Trong một số trường hợp nhất định, việc bồi thường và hòa giải có thể là một trong những căn cứ để đề nghị miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 BLHS. Đối với một số tội chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, việc tự nguyện rút yêu cầu khởi tố có thể dẫn tới đình chỉ theo Điều 155 BLTTHS. Nhưng đây là những trường hợp có điều kiện cụ thể, không thể áp dụng cho mọi vụ án. Do đó, khi gia đình có người đang bị điều tra, truy tố hoặc chuẩn bị xét xử, câu hỏi không nên chỉ là “Phải bồi thường bao nhiêu để không phải đi tù?”. Cần đánh giá đồng thời: tội danh nào đang bị xem xét, thuộc khung hình phạt nào, có bao nhiêu tình tiết giảm nhẹ, có tình tiết tăng nặng không, có căn cứ áp dụng Điều 29, Điều 54 hoặc Điều 65 BLHS hay không và vụ án có thuộc trường hợp Điều 155 BLTTHS hay không. Bồi thường đúng và kịp thời có thể giúp thay đổi đáng kể kết quả lượng hình. Nhưng để đạt được mức khoan hồng cao nhất, phải đặt việc bồi thường trong một chiến lược bào chữa tổng thể dựa trên đúng căn cứ pháp luật và chứng cứ của từng vụ án.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
📧 Email: [email protected]
