Đặt cọc mua đất là bước tưởng như đơn giản nhưng lại tiềm ẩn rất nhiều tranh chấp. Một trong những tình huống phổ biến là: tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích 100m², hai bên thống nhất giá chuyển nhượng và người mua đã giao tiền cọc. Tuy nhiên, trước ngày công chứng, người bán thực hiện thủ tục cấp đổi, cấp lại hoặc đo đạc lại thửa đất và diện tích trên Giấy chứng nhận mới không còn giống diện tích mà hai bên đã thỏa thuận ban đầu.
Có trường hợp từ 100m² giảm xuống chỉ còn 92m². Có trường hợp diện tích tăng lên 110m² và người bán lập tức yêu cầu người mua phải trả thêm tiền. Phức tạp hơn, có những trường hợp diện tích không chỉ thay đổi về con số mà còn thay đổi cả kích thước cạnh, hình thể thửa đất, ranh giới hoặc diện tích đất ở. Khi đó, người mua đặt ra câu hỏi: “Tôi đặt cọc căn cứ vào Sổ đỏ cũ, bây giờ diện tích thay đổi thì tôi có quyền không mua nữa và lấy lại tiền cọc không? Có được yêu cầu phạt cọc không?”
Ngược lại, người bán cũng cho rằng mình không cố tình làm diện tích thay đổi; số liệu mới là kết quả đo đạc của cơ quan Nhà nước nên không thể bắt mình chịu phạt cọc. Đây chính là điểm dễ phát sinh tranh chấp.
Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 xác định đặt cọc là biện pháp nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được hoàn trả hoặc trừ vào nghĩa vụ thanh toán; nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì về nguyên tắc tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; còn nếu bên nhận đặt cọc từ chối thì phải hoàn trả tài sản đặt cọc và một khoản tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Chính cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” cho thấy khi xảy ra tranh chấp, không thể chỉ nhìn vào việc diện tích tăng hay giảm để kết luận ai mất cọc, ai phải đền cọc. Phải đọc chính xác hợp đồng đặt cọc và xác định đối tượng mà hai bên đã cam kết mua bán.
Vậy khi diện tích đất thay đổi sau khi đặt cọc, hợp đồng còn phải tiếp tục thực hiện không? Diện tích giảm bao nhiêu thì người mua có quyền từ chối? Nếu diện tích tăng thì người bán có được tăng giá? Khi nào được lấy lại cọc, khi nào có thể yêu cầu phạt cọc?
Đặt cọc mua đất có giá trị pháp lý như thế nào?
Nhiều người cho rằng hợp đồng đặt cọc chỉ là một tờ giấy “giữ chỗ”, đến khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng mới phát sinh trách nhiệm pháp lý. Cách hiểu này không chính xác.
Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được Bộ luật Dân sự ghi nhận. Khi người mua giao tiền và người bán nhận cọc để bảo đảm việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào một thời điểm nhất định, giữa hai bên đã hình thành một quan hệ pháp luật. Nếu một bên không thực hiện đúng cam kết mà không có căn cứ hợp pháp, hậu quả về cọc có thể phát sinh theo Điều 328 BLDS hoặc theo chính thỏa thuận mà hai bên đã ký.
Điều đặc biệt quan trọng trong tranh chấp diện tích là phải xác định đối tượng của thỏa thuận đặt cọc.
Ví dụ, hợp đồng ghi: “Bên A đồng ý chuyển nhượng cho Bên B toàn bộ thửa đất số 125, tờ bản đồ số 10 theo Giấy chứng nhận số…, diện tích 100m², với giá 3 tỷ đồng.”
Cách ghi này khác với: “Bên A chuyển nhượng cho Bên B 100m² đất với đơn giá 30 triệu đồng/m².”
Lại càng khác với trường hợp: “Bên A chuyển nhượng toàn bộ thửa đất theo hiện trạng thực tế với tổng giá 3 tỷ đồng, diện tích theo kết quả đo đạc và Giấy chứng nhận được cấp đổi.”
Ba cách thỏa thuận có thể dẫn đến ba hướng giải quyết khác nhau nếu sau khi đo lại diện tích chỉ còn 92m².
Bởi Điều 500 BLDS 2015 xác định hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện các quyền đối với quyền sử dụng đất; đồng thời Điều 501 yêu cầu nội dung của hợp đồng phải tuân thủ pháp luật đất đai và các quy định liên quan.
Do đó, trong tranh chấp đặt cọc, câu hỏi đầu tiên không phải là: “Đất giảm bao nhiêu mét?”Mà phải là: “Hai bên đã cam kết mua bán chính xác cái gì?”
Nếu 100m² là điều kiện cốt lõi khiến người mua quyết định giao tiền thì việc diện tích giảm đáng kể có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện thỏa thuận. Nhưng nếu các bên mua bán toàn bộ thửa đất theo ranh giới thực tế và đã dự liệu diện tích có thể thay đổi sau đo đạc thì kết quả pháp lý có thể khác.
Vì sao khi cấp đổi, làm lại Sổ đỏ diện tích đất có thể thay đổi?
Không phải cứ diện tích trên Giấy chứng nhận mới khác Giấy chứng nhận cũ thì chắc chắn cơ quan Nhà nước đã làm sai hoặc người bán gian dối.
Đối với những Giấy chứng nhận được cấp từ nhiều năm trước, số liệu diện tích có thể được xác định bằng phương pháp đo đạc cũ, bản đồ có độ chính xác thấp hơn hoặc hiện trạng ranh giới thửa đất đã có những biến động nhất định. Khi thực hiện đo đạc bằng dữ liệu và kỹ thuật hiện nay, diện tích thực tế có thể xuất hiện chênh lệch.
Ví dụ, Sổ đỏ cũ ghi 200m² nhưng khi đo lại chỉ còn 193m². Vấn đề lúc này không chỉ là “thiếu 7m²” mà cần xác định 7m² biến mất vì đâu.
Nếu ranh giới thực tế không thay đổi, không có tranh chấp với hộ liền kề và chênh lệch xuất phát từ phương pháp đo đạc, đây là một tình huống.
Nhưng nếu diện tích giảm vì hộ bên cạnh đã sử dụng một phần đất, có tranh chấp ranh giới hoặc người bán trước đây đã xây tường không đúng mốc giới thì đây lại là tình huống hoàn toàn khác.
Ngược lại, diện tích có thể tăng sau đo đạc. Nhưng việc diện tích tăng cũng không có nghĩa toàn bộ phần tăng thêm đương nhiên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người bán để đem chuyển nhượng. Phải xem xét nguồn gốc, ranh giới và việc cơ quan có thẩm quyền có công nhận diện tích đó trên Giấy chứng nhận mới hay không.
Luật Đất đai 2024 quy định Giấy chứng nhận được cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất và đủ điều kiện theo luật. Vì vậy, khi thực hiện cấp đổi hoặc giải quyết biến động, thông tin chính thức trên Giấy chứng nhận mới là một căn cứ đặc biệt quan trọng để xác định đối tượng chuyển nhượng.
Do đó, khi biết diện tích thay đổi, người mua không nên vội vàng ký hợp đồng công chứng chỉ dựa vào lời giải thích: “Đo lại thì nó tự thiếu thôi, không vấn đề gì.” Phải kiểm tra nguyên nhân. Đặc biệt, cần phân biệt rõ chênh lệch số liệu đo đạc với mất đất trên thực tế. Hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau và có thể dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau đối với hợp đồng đặt cọc.
Diện tích đất giảm sau khi đặt cọc thì người mua có bắt buộc phải mua tiếp không?
Không thể trả lời rằng cứ giảm diện tích thì người mua được quyền hủy cọc, cũng không thể khẳng định người mua bắt buộc phải tiếp tục mua.
Phải căn cứ vào nội dung hợp đồng đặt cọc, mức độ thay đổi của đối tượng chuyển nhượng, nguyên nhân thay đổi và lỗi của từng bên.
Giả sử người mua đặt cọc 300 triệu đồng để mua một thửa đất được giới thiệu có diện tích 100m² với giá 5 tỷ đồng. Hợp đồng đặt cọc ghi rõ đối tượng là 100m² đất ở. Sau đó người bán làm lại Giấy chứng nhận và kết quả chỉ còn 82m².
Trong trường hợp này, diện tích giảm 18m², tương đương gần 1/5 diện tích mà người mua dự kiến nhận. Nếu mục đích của người mua là xây nhà theo một thiết kế cần diện tích nhất định thì sự thay đổi này càng có ý nghĩa lớn.
Nếu người bán không còn khả năng chuyển nhượng đúng đối tượng đã cam kết và hai bên không đạt được thỏa thuận mới, phải xem xét nguyên nhân dẫn tới việc hợp đồng chính không thể được giao kết đúng nội dung ban đầu để xác định trách nhiệm về cọc.
Ngược lại, giả sử Sổ cũ ghi 100m², đo lại thành 99,8m², toàn bộ ranh giới và hiện trạng vẫn giữ nguyên, còn hợp đồng đặt cọc ghi rõ mua “toàn bộ thửa đất theo hiện trạng” với giá trọn gói. Khi đó, việc người mua lấy lý do thiếu 0,2m² để đơn phương từ chối giao dịch và yêu cầu người bán trả gấp đôi tiền cọc chưa chắc có cơ sở.
Một tình huống khác: hai bên thỏa thuận giá theo mét vuông.
Ví dụ giá là 40 triệu đồng/m², diện tích dự kiến theo Sổ cũ là 100m². Khi cấp đổi chỉ còn 95m². Nếu hợp đồng quy định thanh toán theo diện tích thực tế được công nhận trên Giấy chứng nhận mới thì giá chuyển nhượng có thể được điều chỉnh tương ứng còn 3,8 tỷ đồng.
Nhưng nếu hợp đồng ghi giá trọn gói 4 tỷ đồng cho toàn bộ thửa đất, không có điều khoản điều chỉnh giá theo diện tích, việc một bên tự lấy đơn giá suy ngược để giảm hoặc tăng tiền là vấn đề cần xem xét lại.
Vì vậy, diện tích giảm không tự động làm mất hiệu lực thỏa thuận đặt cọc. Nhưng nếu sự thay đổi làm cho bên bán không thể giao đúng tài sản đã cam kết thì đây là yếu tố đặc biệt quan trọng khi xác định bên nào phải chịu hậu quả của việc hợp đồng chuyển nhượng không được giao kết.
Diện tích đất tăng thì người bán có được yêu cầu người mua trả thêm tiền không?
Đây là tình huống ngược lại nhưng cũng rất dễ xảy ra tranh chấp.
Ví dụ, Sổ đỏ cũ ghi 90m². Hai bên ký đặt cọc mua bán với tổng giá 3,6 tỷ đồng. Sau khi đo đạc cấp đổi, diện tích được công nhận thành 100m². Người bán lập tức yêu cầu:
“Đất tăng thêm 10m² nên phải trả thêm 400 triệu đồng, nếu không tôi không bán.” Yêu cầu này có đúng không? Không thể chỉ căn cứ vào việc diện tích tăng để kết luận người mua phải trả thêm.
Nếu hợp đồng đặt cọc xác định giá trọn gói cho toàn bộ thửa đất, người bán đã cam kết bán toàn bộ thửa với giá 3,6 tỷ đồng và không có điều khoản điều chỉnh theo diện tích thực tế, thì việc diện tích tăng không đương nhiên trao cho người bán quyền đơn phương tăng giá.
Ngược lại, nếu hợp đồng quy định giá chuyển nhượng là 40 triệu đồng/m² và giá cuối cùng tính theo diện tích được cơ quan Nhà nước công nhận, khi diện tích tăng từ 90m² lên 100m² thì việc điều chỉnh tổng giá có thể phù hợp với chính thỏa thuận.
Điểm quyết định vẫn là ý chí đã thống nhất của hai bên tại thời điểm đặt cọc.
Nếu người bán lợi dụng việc cấp đổi Sổ để yêu cầu tăng giá trái với thỏa thuận, sau đó từ chối ra công chứng khi người mua vẫn sẵn sàng thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc, hành vi của người bán có thể làm phát sinh trách nhiệm về đặt cọc.
Điều 328 BLDS quy định trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì về nguyên tắc phải hoàn trả tài sản đặt cọc và một khoản tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ khi các bên đã có thỏa thuận khác.
Vì vậy, người bán cũng không thể đơn giản nói: “Sổ mới diện tích lớn hơn nên giá cũ không còn giá trị.” Nếu muốn có cơ chế điều chỉnh giá theo diện tích, điều đó nên được ghi rõ ngay trong hợp đồng đặt cọc.
Khi nào được lấy lại tiền cọc và khi nào có thể yêu cầu phạt cọc?
Đây thường là vấn đề các bên quan tâm nhất khi tranh chấp xảy ra.
Trước hết phải phân biệt hoàn trả tiền cọc với phạt cọc.
Nếu bên bán có lỗi dẫn đến việc không thể giao kết hợp đồng theo đúng cam kết, chẳng hạn biết rõ diện tích thực tế không đủ nhưng vẫn cam kết bán đủ diện tích, hoặc sau khi diện tích tăng lại tự ý tăng giá và từ chối bán theo thỏa thuận, bên mua có thể có căn cứ yêu cầu xử lý cọc theo thỏa thuận và Điều 328 BLDS.
Nếu bên mua tự ý thay đổi ý định, trong khi bên bán vẫn có đầy đủ điều kiện chuyển nhượng đúng đối tượng đã thỏa thuận và sẵn sàng ra công chứng, bên mua lại có nguy cơ mất cọc.
Nhưng có một nhóm tình huống khó hơn: hợp đồng không thể giao kết do nguyên nhân khách quan hoặc không hoàn toàn do lỗi của một bên.
Ví dụ, tại thời điểm đặt cọc cả hai bên đều căn cứ vào Giấy chứng nhận hợp pháp ghi 100m². Không bên nào biết số liệu có sai lệch. Khi thực hiện thủ tục cấp đổi theo yêu cầu của cơ quan chuyên môn, diện tích được xác định chỉ còn 90m² do sai số đo đạc lịch sử. Người mua không còn nhu cầu mua vì diện tích không đáp ứng mục đích sử dụng, còn người bán cũng không có khả năng giao đủ 100m².
Trong trường hợp này, việc áp dụng máy móc nguyên tắc “không mua thì mất cọc” hoặc “không bán đủ thì phải đền cọc” có thể không phản ánh chính xác bản chất sự việc. Phải xem hợp đồng đã phân bổ rủi ro về thay đổi diện tích như thế nào, bên nào có lỗi và nguyên nhân khiến giao dịch không thể tiếp tục.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy tranh chấp đặt cọc do trở ngại khách quan có thể phức tạp và việc xác định lỗi đóng vai trò quan trọng trong xử lý hậu quả đặt cọc. Do đó, trước khi tuyên bố “bỏ mua” hoặc “tịch thu cọc”, các bên nên có văn bản ghi nhận sự thay đổi diện tích và yêu cầu bên kia đưa ra phương án xử lý.
Đừng chỉ trao đổi bằng điện thoại. Tin nhắn, email, biên bản làm việc và văn bản yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể trở thành chứng cứ rất quan trọng nếu sau này tranh chấp được đưa ra Tòa án.
Cần kiểm tra những gì trước khi quyết định tiếp tục mua đất?
Khi nhận được Giấy chứng nhận mới có diện tích khác, người mua trước hết phải đối chiếu Sổ cũ – Sổ mới – hiện trạng thực tế.
Đừng chỉ nhìn vào tổng diện tích.
Ví dụ, diện tích vẫn là 100m² nhưng chiều mặt tiền từ 5m giảm xuống 4m và chiều sâu tăng lên. Đối với người mua cần mặt tiền 5m để kinh doanh, đây có thể là thay đổi quan trọng hơn cả việc thiếu vài mét vuông.
Cần kiểm tra hình thể thửa đất, chiều dài các cạnh, lối đi, mốc giới, phần đất ở và phần đất có mục đích sử dụng khác, tình trạng tranh chấp với hộ liền kề và những hạn chế quyền sử dụng đất nếu có.
Đặc biệt phải xác định diện tích tăng hoặc giảm nằm ở đâu. Nếu phần giảm nằm phía sau vườn có thể ít ảnh hưởng. Nhưng nếu phần giảm chính là lối đi duy nhất hoặc mặt tiền thì giá trị sử dụng của thửa đất có thể thay đổi rất lớn. Nếu nghi ngờ có tranh chấp ranh giới, nên yêu cầu người bán cung cấp hồ sơ kỹ thuật thửa đất, tài liệu đo đạc và hồ sơ cấp đổi. Trường hợp cần thiết có thể tiến hành đo đạc độc lập để kiểm tra trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng.
Đối với người mua, một nguyên tắc cần nhớ là: Đừng chỉ mua “con số mét vuông trên Sổ”; hãy kiểm tra chính thửa đất ngoài thực địa. Giấy chứng nhận mới được cấp theo thửa đất và là tài liệu pháp lý quan trọng xác định quyền của người sử dụng đất. Vì vậy, nếu thông tin mới khác đáng kể so với đối tượng đặt cọc ban đầu, phải giải quyết rõ trước khi công chứng.
Nếu hai bên không thỏa thuận được thì giải quyết tranh chấp như thế nào?
Trước khi khởi kiện, nên gửi một văn bản chính thức cho bên còn lại. Nếu người mua vẫn muốn mua nhưng yêu cầu điều chỉnh giá tương ứng diện tích, hãy nêu rõ phương án. Nếu người mua không còn muốn mua vì đối tượng đã thay đổi cơ bản, cần nêu căn cứ và yêu cầu hoàn trả tiền cọc.
Nếu cho rằng bên bán có lỗi và thuộc trường hợp phải chịu phạt cọc, phải xác định rõ điều khoản hợp đồng và chứng cứ chứng minh bên bán từ chối hoặc không có khả năng thực hiện đúng cam kết. Ngược lại, nếu người bán cho rằng mình hoàn toàn đủ điều kiện thực hiện giao dịch nhưng người mua tự ý bỏ mua, người bán cũng cần có chứng cứ thể hiện mình đã yêu cầu người mua đến công chứng đúng thời hạn. Nếu không thể thương lượng, một bên có thể khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.
Khi xét xử, Tòa án không chỉ nhìn vào một câu “đã nhận cọc 300 triệu đồng”. Tòa có thể phải đánh giá toàn bộ hợp đồng đặt cọc, Giấy chứng nhận cũ và mới, hồ sơ đo đạc, tin nhắn giữa các bên, thời điểm phát hiện diện tích thay đổi, nguyên nhân thay đổi và hành vi của từng bên sau khi phát hiện.
Đặc biệt, phải xác định ai là người từ chối giao kết hợp đồng và vì sao họ từ chối. Đây thường là điểm quyết định việc mất cọc, hoàn cọc hay phạt cọc.
Những điều bắt buộc nên ghi trong hợp đồng đặt cọc để tránh tranh chấp
Rất nhiều vụ kiện hoàn toàn có thể tránh được nếu hợp đồng đặt cọc chỉ thêm vài câu rõ ràng. Thay vì chỉ ghi “diện tích 100m² theo Sổ đỏ”, nên xác định rõ việc chuyển nhượng là theo diện tích ghi trên Giấy chứng nhận, diện tích đo đạc thực tế hay toàn bộ thửa đất theo ranh giới hiện trạng. Nếu tính giá theo mét vuông, phải ghi rõ đơn giá và cách điều chỉnh khi diện tích tăng hoặc giảm. Nếu mua giá trọn gói, nên ghi rõ tổng giá có thay đổi khi diện tích đo lại chênh lệch hay không.
Quan trọng hơn, cần có một điều khoản riêng: “Trường hợp khi đo đạc, cấp đổi hoặc thực hiện thủ tục chuyển nhượng, diện tích được cơ quan có thẩm quyền xác định khác với diện tích hiện tại thì…”
Sau đó quy định rõ cách xử lý.
Ví dụ, chênh lệch dưới 1% thì giữ nguyên giá; chênh lệch trên 1% thì điều chỉnh theo đơn giá; hoặc nếu diện tích thấp hơn một mức tối thiểu thì người mua được quyền từ chối giao dịch và nhận lại tiền cọc. Đối với thửa đất có giá trị lớn, cần quy định cả kích thước mặt tiền, chiều sâu, lối đi và diện tích đất ở tối thiểu, không chỉ tổng diện tích.
Ví dụ người mua cần 100m² trong đó phải có ít nhất 80m² đất ở thì phải ghi điều kiện này. Nếu chỉ ghi “100m² đất” nhưng Sổ mới vẫn đủ 100m² trong khi diện tích đất ở giảm mạnh, việc giải quyết sẽ phức tạp hơn nhiều.
Cuối cùng, phải ghi rõ trường hợp nào được coi là lỗi của bên bán, lỗi của bên mua, trường hợp khách quan và hậu quả đối với tiền cọc. Một hợp đồng đặt cọc càng rõ thì khả năng phải ra Tòa càng thấp.
Kết luận
Đã đặt cọc mua đất nhưng sau khi làm lại Sổ đỏ, diện tích tăng hoặc giảm không đồng nghĩa hợp đồng đặt cọc tự động vô hiệu, cũng không đồng nghĩa một bên đương nhiên được mất cọc hoặc đền cọc. Muốn xác định hậu quả pháp lý, phải quay lại chính nội dung mà hai bên đã cam kết.
Nếu hợp đồng xác định chuyển nhượng đúng một diện tích cụ thể và diện tích đó là điều kiện quan trọng của giao dịch, việc Sổ mới thay đổi đáng kể có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện hợp đồng.
Nếu các bên thỏa thuận mua bán toàn bộ thửa đất theo hiện trạng với giá trọn gói, việc diện tích thay đổi nhỏ do đo đạc chưa chắc là căn cứ để một bên tự ý hủy giao dịch.
Nếu giá được tính theo mét vuông và hợp đồng đã quy định diện tích cuối cùng căn cứ theo kết quả đo đạc hoặc Giấy chứng nhận mới, việc tăng giảm diện tích có thể dẫn đến điều chỉnh tổng giá theo thỏa thuận.
Đặc biệt, phạt cọc không phải cứ hợp đồng chính không ký được là tự động áp dụng. Điều 328 BLDS đặt hậu quả cọc trong mối quan hệ với việc bên đặt cọc hoặc bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng, đồng thời tôn trọng thỏa thuận riêng của các bên.
Vì vậy, khi phát hiện diện tích thay đổi, người mua không nên vội tuyên bố “tôi không mua nữa”, còn người bán cũng không nên lập tức tuyên bố “không mua thì mất cọc”.
Hãy làm rõ 05 vấn đề cốt lõi: diện tích cũ bao nhiêu; diện tích mới bao nhiêu; nguyên nhân chênh lệch; hợp đồng đặt cọc quy định đối tượng và giá như thế nào; bên nào thực tế không thể hoặc không muốn tiếp tục thực hiện cam kết. Chỉ sau khi trả lời được những vấn đề này mới có thể xác định chính xác tiền cọc phải xử lý ra sao.
Trong giao dịch bất động sản có giá trị lớn, chỉ một vài mét vuông thay đổi cũng có thể tương ứng hàng trăm triệu đồng. Vì vậy, nếu đã phát sinh chênh lệch diện tích sau khi đặt cọc, nên để luật sư kiểm tra hợp đồng, hồ sơ cấp đổi và hiện trạng thửa đất trước khi ký biên bản hủy cọc, giao thêm tiền hoặc công chứng hợp đồng chuyển nhượng.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
🏢 Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
📞 Hotline hỗ trợ: 0972 810 901 – 0969 545 660
📧 Email: [email protected]
