Trong thực tế, khi cần tiền gấp để kinh doanh, chữa bệnh, trả nợ hoặc giải quyết khó khăn tài chính, nhiều người lựa chọn vay tiền từ cá nhân thay vì ngân hàng. Những giao dịch này thường được thực hiện nhanh chóng, không yêu cầu nhiều thủ tục và chủ yếu dựa trên giấy vay tiền, tin nhắn hoặc thỏa thuận miệng. Tuy nhiên, đổi lại sự thuận tiện đó, người vay có thể phải chấp nhận mức lãi suất rất cao, phổ biến như 3%, 5%, thậm chí 10% mỗi tháng.
Một trong những tình huống thường gặp là người vay nhận 100 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng, tương đương 5 triệu đồng tiền lãi mỗi tháng. Ban đầu, người vay cho rằng đây là mức lãi có thể chấp nhận vì đang cần tiền gấp. Tuy nhiên, sau một năm, tổng số tiền lãi phải trả đã lên đến 60 triệu đồng, trong khi khoản nợ gốc vẫn còn nguyên. Khi không còn khả năng thanh toán, người vay mới tìm hiểu và phát hiện mức lãi suất đã thỏa thuận vượt quá giới hạn pháp luật dân sự cho phép.
Từ đó, nhiều câu hỏi được đặt ra: Vay tiền với lãi suất 5%/tháng có được tố giác chủ nợ về tội cho vay lãi nặng không? Có phải cứ cho vay vượt mức 20%/năm là bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Nếu người vay đã tự nguyện ký giấy vay tiền thì còn quyền tố giác hay không? Đặc biệt, không ít người nhầm lẫn giữa hành vi cho vay với lãi suất vượt giới hạn pháp luật và tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Đây là hai vấn đề pháp lý có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau. Một mức lãi suất có thể vi phạm quy định của Bộ luật Dân sự nhưng chưa đủ điều kiện cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự. Để xác định trách nhiệm pháp lý của người cho vay, cần xem xét đồng thời mức lãi suất, số tiền thu lợi bất chính, quá trình thực hiện giao dịch và những tình tiết khác theo quy định pháp luật.
Vay tiền với lãi suất 5%/tháng có vi phạm pháp luật không?
Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong giao dịch vay tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của quy định này, các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng mức lãi suất không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới hạn này thì phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực pháp luật. Như vậy, đối với một hợp đồng vay tiền dân sự thông thường giữa các cá nhân, mức lãi suất tối đa được pháp luật công nhận là 20%/năm, tương đương khoảng 1,67%/tháng nếu quy đổi theo cách tính đơn giản trên cơ sở 12 tháng. Trong khi đó, mức lãi suất 5%/tháng tương đương 60%/năm, cao gấp ba lần giới hạn lãi suất được Bộ luật Dân sự cho phép.
Ví dụ, ông A cho ông B vay 100 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay một năm. Theo thỏa thuận, mỗi tháng ông B phải trả 5 triệu đồng tiền lãi và sau một năm tổng số tiền lãi là 60 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu áp dụng giới hạn lãi suất 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự, khoản lãi trong hạn tối đa được pháp luật công nhận đối với 100 triệu đồng trong một năm là 20 triệu đồng. Phần lãi vượt quá 40 triệu đồng không có hiệu lực theo quy định pháp luật.
Điều đáng chú ý là việc người vay đã ký giấy vay tiền, tự nguyện đồng ý mức lãi suất 5%/tháng hoặc đã thanh toán tiền lãi trong nhiều tháng không đồng nghĩa với việc toàn bộ thỏa thuận về lãi suất trở nên hợp pháp. Quyền tự do thỏa thuận trong giao dịch dân sự phải được thực hiện trong giới hạn mà pháp luật cho phép. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, người vay có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ rằng lãi suất 5%/tháng vượt giới hạn pháp luật dân sự không đồng nghĩa với việc người cho vay đương nhiên phạm tội cho vay lãi nặng. Bộ luật Hình sự đặt ra những điều kiện riêng để xác định hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có cấu thành tội phạm hay không. Trong đó, mức lãi suất và khoản tiền thu lợi bất chính là những yếu tố đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, giới hạn 20%/năm tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không được áp dụng máy móc cho mọi hoạt động cấp tín dụng. Đối với những giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành, cần xem xét quy định tương ứng để xác định giới hạn và tính hợp pháp của lãi suất. Bài viết này tập trung vào giao dịch vay tiền dân sự thông thường giữa các cá nhân. Như vậy, lãi suất 5%/tháng trong giao dịch vay tiền dân sự thông thường là mức lãi suất vượt giới hạn pháp luật cho phép. Tuy nhiên, việc có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người cho vay hay không phải được xem xét theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Lãi suất 5%/tháng có đủ căn cứ khởi tố tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự không?
Theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung, người nào trong giao dịch dân sự cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đối với giao dịch vay tiền dân sự thông thường, mức lãi suất cao nhất theo Điều 468 Bộ luật Dân sự là 20%/năm. Do đó, mức lãi suất gấp 05 lần tương đương từ 100%/năm trở lên. Nếu quy đổi đơn giản theo tháng, mức này tương đương khoảng 8,33%/tháng.
Trong khi đó, mức lãi suất 5%/tháng chỉ tương đương 60%/năm, tức gấp ba lần mức lãi suất cao nhất được Bộ luật Dân sự cho phép. Như vậy, nếu thực tế người cho vay chỉ áp dụng mức lãi suất 5%/tháng, không có khoản phí hoặc hình thức thu tiền khác làm tăng lãi suất thực tế, thì hành vi này chưa đáp ứng dấu hiệu về mức lãi suất của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Ví dụ, ông A cho ông B vay 200 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng, tương đương 10 triệu đồng tiền lãi mỗi tháng. Sau một năm, ông A đã nhận tổng cộng 120 triệu đồng tiền lãi. Mặc dù số tiền lãi thực tế rất lớn và vượt giới hạn pháp luật dân sự, mức lãi suất 60%/năm vẫn chưa đạt ngưỡng từ 100%/năm trở lên theo Điều 201 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc ông A đã thu 120 triệu đồng tiền lãi để kết luận ông A phạm tội cho vay lãi nặng.
Điều này cho thấy, đối với tội cho vay lãi nặng, không phải cứ thu được nhiều tiền lãi hoặc thu lợi từ việc cho vay vượt giới hạn dân sự là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cần xác định đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó điều kiện về mức lãi suất là yếu tố bắt buộc. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp giấy vay tiền chỉ ghi lãi suất 5%/tháng nhưng người cho vay còn thu thêm những khoản tiền khác như phí giải ngân, phí quản lý khoản vay, phí gia hạn hoặc yêu cầu người vay trả trước một khoản tiền ngay khi nhận nợ. Nếu những khoản tiền này thực chất là khoản thu gắn với việc cho vay, cần xem xét bản chất giao dịch để xác định mức lãi suất thực tế.
Chẳng hạn, người vay ký giấy nhận nợ 100 triệu đồng nhưng chỉ được giao thực tế 80 triệu đồng, trong khi vẫn phải trả lãi tính trên 100 triệu đồng và hoàn trả đủ 100 triệu đồng tiền gốc. Trong trường hợp này, việc chỉ căn cứ vào mức lãi suất ghi trên giấy vay có thể không phản ánh đúng bản chất khoản tiền mà người cho vay thu được. Cơ quan có thẩm quyền cần xác minh số tiền thực tế đã giao, các khoản tiền bị khấu trừ, thời hạn vay và nghĩa vụ thanh toán để đánh giá chính xác hành vi.
Đặc biệt, việc xác định lãi suất thực tế phải dựa trên chứng cứ khách quan, không thể chỉ dựa vào nhận định chủ quan của người vay. Những chứng cứ quan trọng có thể bao gồm giấy vay tiền, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn thỏa thuận lãi suất, sổ theo dõi thanh toán và những tài liệu thể hiện khoản tiền thực tế người vay nhận được. Như vậy, nếu chỉ cho vay với lãi suất 5%/tháng thì chưa đủ dấu hiệu về mức lãi suất để cấu thành tội cho vay lãi nặng theo Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, nếu giao dịch có những khoản thu khác làm thay đổi lãi suất thực tế, cần xem xét toàn bộ bản chất giao dịch trước khi đưa ra kết luận.
Người vay lãi suất 5%/tháng có quyền tố giác chủ nợ không? Cơ quan Công an sẽ xử lý như thế nào?
Một vấn đề người dân thường quan tâm là nếu mức lãi suất 5%/tháng chưa đủ điều kiện cấu thành tội cho vay lãi nặng thì người vay có được làm đơn tố giác gửi cơ quan Công an hay không. Cần phân biệt giữa quyền cung cấp thông tin, tố giác hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật và việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Theo Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cá nhân có quyền tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận phải thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin theo quy định. Tuy nhiên, việc tiếp nhận đơn tố giác không đồng nghĩa với việc cơ quan điều tra bắt buộc phải khởi tố vụ án hình sự. Quyết định khởi tố chỉ được ban hành khi có đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm theo quy định pháp luật.
Đối với trường hợp vay tiền với lãi suất 5%/tháng, nếu người vay nghi ngờ chủ nợ có hành vi cho vay lãi nặng, thu thêm các khoản phí bất hợp pháp, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc thực hiện những hành vi khác có dấu hiệu tội phạm thì có thể cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền để được xem xét. Tuy nhiên, nếu quá trình xác minh cho thấy mức lãi suất thực tế chỉ là 60%/năm và không có dấu hiệu cấu thành tội phạm khác, thì không đủ căn cứ khởi tố tội cho vay lãi nặng theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Ví dụ, bà A vay của ông B 100 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng. Sau một năm, bà A đã trả 60 triệu đồng tiền lãi nhưng vẫn còn nợ toàn bộ tiền gốc. Cho rằng mức lãi suất quá cao, bà A làm đơn tố giác ông B về hành vi cho vay lãi nặng. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét thông tin được cung cấp, xác minh thỏa thuận và quá trình thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, nếu không có tình tiết nào khác làm thay đổi mức lãi suất thực tế, việc cho vay 5%/tháng chưa đáp ứng điều kiện về mức lãi suất để xử lý hình sự theo Điều 201.
Điều đáng lưu ý là việc không đủ căn cứ khởi tố hình sự không đồng nghĩa với việc hành vi cho vay vượt giới hạn lãi suất được pháp luật công nhận. Người vay vẫn có thể sử dụng những biện pháp pháp lý khác để bảo vệ quyền lợi, đặc biệt là yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự liên quan đến phần lãi suất vượt quá giới hạn pháp luật. Ngoài ra, nếu chủ nợ sử dụng các hành vi như đe dọa, cưỡng ép, hành hung, chiếm đoạt tài sản hoặc những thủ đoạn trái pháp luật khác để đòi nợ, cần xem xét trách nhiệm pháp lý đối với từng hành vi cụ thể. Việc khoản vay có lãi suất chưa đủ ngưỡng cấu thành tội cho vay lãi nặng không loại trừ khả năng chủ nợ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật khác nếu có đủ căn cứ.
Đặc biệt, người vay cần trình bày trung thực toàn bộ nội dung giao dịch, không nên cố tình khai tăng mức lãi suất hoặc đưa ra thông tin không chính xác nhằm yêu cầu xử lý hình sự chủ nợ. Việc tố giác phải dựa trên sự việc thực tế và những tài liệu có thể kiểm chứng. Như vậy, người vay có quyền cung cấp thông tin, tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, đối với khoản vay có lãi suất thực tế chỉ 5%/tháng, việc khởi tố tội cho vay lãi nặng không có căn cứ nếu không đáp ứng dấu hiệu về mức lãi suất và các điều kiện khác theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Vay lãi suất 5%/tháng, người vay có phải trả toàn bộ tiền lãi và tiền gốc không?
Một trong những hiểu lầm phổ biến là khi phát hiện chủ nợ cho vay vượt mức lãi suất pháp luật cho phép, người vay cho rằng mình không còn nghĩa vụ trả nợ hoặc có quyền giữ lại toàn bộ số tiền đã vay. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc với nghĩa vụ trả lãi và hậu quả pháp lý của phần thỏa thuận lãi suất vượt giới hạn. Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vay tài sản là tiền có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn theo thỏa thuận và quy định pháp luật. Vì vậy, việc lãi suất thỏa thuận vượt giới hạn cho phép không đương nhiên làm chấm dứt nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền gốc mà người vay đã nhận.
Đối với tiền lãi, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định phần lãi suất vượt quá mức 20%/năm không có hiệu lực, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Do đó, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng vay dân sự thông thường, Tòa án phải xem xét giới hạn lãi suất được pháp luật công nhận, thay vì mặc nhiên buộc người vay thực hiện toàn bộ mức lãi suất đã thỏa thuận.
Ví dụ, ông A vay của ông B 100 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng trong thời hạn 12 tháng. Nếu tính theo thỏa thuận, tổng số tiền lãi trong một năm là 60 triệu đồng. Tuy nhiên, đối với khoản vay dân sự thuộc phạm vi áp dụng Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi suất trong hạn được pháp luật công nhận tối đa là 20%/năm, tương đương 20 triệu đồng trong một năm đối với khoản vay 100 triệu đồng. Phần lãi vượt quá 40 triệu đồng không có hiệu lực pháp luật.
Nếu ông A đã thanh toán đủ 60 triệu đồng tiền lãi, cần xem xét việc xử lý khoản tiền đã trả vượt giới hạn pháp luật. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh, phần tiền lãi đã trả vượt mức pháp luật cho phép có thể được xem xét trừ vào nghĩa vụ trả nợ gốc; nếu đã trả hết nợ gốc thì xử lý khoản tiền vượt theo quy định tương ứng. Tuy nhiên, việc tính toán cụ thể phải căn cứ vào thời điểm xác lập hợp đồng, thời hạn vay, thời điểm thanh toán, số tiền đã trả và những thỏa thuận hợp pháp giữa các bên. Không thể chỉ lấy tổng tiền lãi đã thanh toán trừ trực tiếp vào tiền gốc trong mọi trường hợp mà không đối chiếu quy định pháp luật và hướng dẫn áp dụng.
Một vấn đề khác là nghĩa vụ trả lãi khi bên vay không thanh toán đúng hạn. Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp vay có lãi mà đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, nghĩa vụ thanh toán lãi có thể bao gồm lãi trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn theo quy định. Việc xác định những khoản lãi này cần căn cứ vào lãi suất hợp pháp và thời gian chậm trả, không thể tiếp tục áp dụng toàn bộ mức lãi suất 5%/tháng nếu mức lãi đó vượt giới hạn pháp luật. Đặc biệt, người vay không nên tự ý ngừng thanh toán toàn bộ nghĩa vụ với lý do chủ nợ cho vay lãi suất cao. Phương án phù hợp là xác định số tiền gốc thực tế đã nhận, các khoản đã thanh toán, mức lãi suất hợp pháp và phần tiền lãi vượt giới hạn để thương lượng hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Như vậy, vay tiền với lãi suất 5%/tháng không làm mất nghĩa vụ trả nợ gốc. Tuy nhiên, người vay không đương nhiên phải thanh toán toàn bộ phần lãi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép và có quyền yêu cầu xem xét, xử lý khoản tiền lãi đã trả vượt mức theo quy định.
Khi bị yêu cầu trả lãi 5%/tháng, người vay nên làm gì để bảo vệ quyền lợi hợp pháp?
Trong thực tế, khi không còn khả năng trả lãi, nhiều người vay lựa chọn né tránh chủ nợ hoặc làm đơn tố giác ngay với mong muốn được miễn toàn bộ nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, nếu mức lãi suất thực tế chỉ là 5%/tháng, việc tố giác về tội cho vay lãi nặng chưa chắc là phương án phù hợp nhất, bởi mức lãi suất này chưa đạt ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Để bảo vệ quyền lợi, trước hết người vay cần rà soát toàn bộ nội dung giao dịch, xác định chính xác số tiền thực tế đã nhận, mức lãi suất đã thỏa thuận, thời hạn vay và tổng số tiền đã thanh toán. Đặc biệt, cần kiểm tra xem ngoài mức lãi suất ghi trong giấy vay, chủ nợ có thu thêm những khoản tiền khác hay không. Trong một số trường hợp, việc khấu trừ tiền lãi trước khi giao tiền hoặc thu các khoản phí không được thể hiện rõ trong hợp đồng có thể khiến mức lãi suất thực tế cao hơn mức ghi trên giấy tờ.
Ví dụ, người vay ký giấy nhận nợ 100 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng nhưng khi giải ngân chỉ nhận 90 triệu đồng do chủ nợ giữ lại 10 triệu đồng với lý do phí hồ sơ và tiền lãi trả trước. Khi đó, cần làm rõ bản chất khoản tiền bị khấu trừ, thời hạn vay và nghĩa vụ thanh toán để xác định chính xác khoản tiền thực tế người vay phải chịu.
Tiếp theo, người vay cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ liên quan đến giao dịch. Những tài liệu quan trọng có thể bao gồm giấy vay tiền, hợp đồng vay, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn thỏa thuận lãi suất, giấy biên nhận thanh toán, dữ liệu trao đổi và các tài liệu khác thể hiện quá trình thực hiện nghĩa vụ. Đây là cơ sở để chứng minh mức lãi suất thực tế, số tiền đã trả và những khoản tiền mà chủ nợ đã nhận.
Trường hợp các bên có thể thương lượng, người vay nên đề nghị xác định lại nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất hợp pháp. Việc thương lượng cần được ghi nhận rõ ràng bằng văn bản, trong đó xác định số tiền gốc còn lại, khoản lãi hợp pháp, số tiền đã thanh toán và thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Nếu không đạt được thỏa thuận, người vay có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định.
Đối với trường hợp chủ nợ khởi kiện yêu cầu thanh toán toàn bộ tiền gốc và lãi suất 5%/tháng, người vay cần chủ động tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và trình bày rõ quan điểm về phần lãi suất vượt giới hạn. Việc không tham gia tố tụng hoặc không cung cấp chứng cứ có thể khiến người vay gặp bất lợi trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, nếu chủ nợ có hành vi đe dọa, hành hung, cưỡng ép hoặc sử dụng những phương thức đòi nợ trái pháp luật, người vay cần bảo quản chứng cứ và trình báo cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, bảo vệ. Những hành vi này cần được đánh giá độc lập với việc thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng vay.
Đặc biệt, cần lưu ý rằng không phải mọi khoản vay lãi suất cao đều là tín dụng đen theo nghĩa pháp lý của một tội danh cụ thể. Việc sử dụng thuật ngữ “tín dụng đen” trong đời sống không thay thế cho yêu cầu xác định đầy đủ dấu hiệu của hành vi vi phạm hành chính hoặc tội phạm theo quy định pháp luật. Như vậy, đối với khoản vay lãi suất 5%/tháng, phương án cần ưu tiên là xác định chính xác nghĩa vụ trả nợ và yêu cầu xử lý phần lãi suất vượt giới hạn pháp luật. Chỉ khi có căn cứ về hành vi có dấu hiệu tội phạm, người vay mới nên tập trung vào thủ tục tố giác hình sự để tránh nhầm lẫn giữa tranh chấp dân sự và trách nhiệm hình sự.
VAY LÃI SUẤT 5%/THÁNG CÓ THỂ TỐ GIÁC, NHƯNG KHÔNG ĐƯƠNG NHIÊN CẤU THÀNH TỘI CHO VAY LÃI NẶNG
Vay tiền với lãi suất 5%/tháng tương đương 60%/năm, vượt quá giới hạn lãi suất 20%/năm theo Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với giao dịch vay tiền dân sự thông thường. Vì vậy, phần lãi suất vượt giới hạn không có hiệu lực pháp luật và người vay có quyền yêu cầu xem xét, xử lý theo quy định. Tuy nhiên, để cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự, hành vi cho vay phải đáp ứng điều kiện về mức lãi suất từ gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất được Bộ luật Dân sự quy định, tương đương từ 100%/năm trở lên đối với giao dịch vay dân sự thông thường, đồng thời đáp ứng những điều kiện khác về thu lợi bất chính hoặc tình trạng đã bị xử lý theo quy định.
Do đó, nếu thực tế chủ nợ chỉ cho vay với lãi suất 5%/tháng và không có những khoản thu khác làm tăng lãi suất thực tế, thì chưa đủ căn cứ về mức lãi suất để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng. Đối với người vay, việc lãi suất vượt giới hạn pháp luật không đồng nghĩa với việc được miễn nghĩa vụ trả nợ gốc. Phương án phù hợp là xác định chính xác số tiền đã nhận, các khoản đã thanh toán và phần lãi suất hợp pháp để bảo vệ quyền lợi trong quá trình thương lượng hoặc giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Đặc biệt, nếu có dấu hiệu chủ nợ thu thêm phí bất hợp pháp, khấu trừ tiền trước khi giải ngân hoặc sử dụng hành vi đe dọa, cưỡng ép để đòi nợ, cần xem xét toàn bộ chứng cứ và bản chất giao dịch để lựa chọn biện pháp pháp lý phù hợp.
Luật Công Tâm hỗ trợ tư vấn tranh chấp hợp đồng vay tài sản, xác định lãi suất hợp pháp, tính toán nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi, đánh giá dấu hiệu tội cho vay lãi nặng, soạn thảo đơn tố giác, đơn khởi kiện và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình giải quyết vụ việc tại cơ quan có thẩm quyền.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0972810901 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
