Trong thực tế, không ít gia đình cho rằng khi cha mẹ đã lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho một người con thì những người con khác đương nhiên không còn quyền yêu cầu chia thừa kế. Thậm chí, có trường hợp người được chỉ định trong di chúc cho rằng mình có quyền quản lý, sử dụng và định đoạt toàn bộ tài sản ngay sau khi người lập di chúc qua đời, bất kể những người thừa kế khác có đồng ý hay không. Tuy nhiên, đây là cách hiểu chưa đầy đủ về pháp luật thừa kế và có thể dẫn đến những tranh chấp kéo dài giữa các thành viên trong gia đình.
Một bản di chúc được công chứng, chứng thực hợp pháp không đồng nghĩa với việc toàn bộ tài sản được ghi trong di chúc chắc chắn thuộc về người được chỉ định. Trên thực tế, có những trường hợp di chúc hoàn toàn hợp pháp nhưng chỉ có hiệu lực đối với một phần tài sản; có trường hợp người không được nhắc đến trong di chúc vẫn có quyền hưởng di sản; cũng có trường hợp tài sản được định đoạt trong di chúc không còn thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc tại thời điểm mở thừa kế.
Đặc biệt, tranh chấp thường phát sinh khi di sản là nhà đất thuộc tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung của hộ gia đình hoặc tài sản có nguồn gốc từ nhiều thế hệ. Khi đó, việc xác định ai là người có quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản có ý nghĩa quyết định đến phạm vi di sản được chia theo di chúc.
Vậy có phải cứ có di chúc là người được chỉ định đương nhiên được hưởng toàn bộ di sản? Những ai vẫn có quyền hưởng thừa kế dù không được ghi tên trong di chúc? Di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho một người con có thể bị vô hiệu một phần hay không? Để làm rõ những vấn đề này, cần phân biệt giữa quyền định đoạt tài sản bằng di chúc, điều kiện có hiệu lực của di chúc, phạm vi di sản và quyền lợi của những người thừa kế được pháp luật bảo vệ đặc biệt.
Có di chúc hợp pháp thì người được chỉ định có đương nhiên được hưởng toàn bộ di sản không?
Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Đây là một trong những phương thức định đoạt tài sản được pháp luật thừa nhận, thể hiện quyền tự do ý chí của cá nhân trong việc quyết định người được hưởng di sản và phần di sản mà mỗi người được hưởng. Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người thừa kế và thực hiện những quyền khác trong phạm vi luật định. Tuy nhiên, quyền định đoạt bằng di chúc không phải là quyền tuyệt đối và không thể được thực hiện vượt quá phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người lập di chúc.
Về nguyên tắc, khi một người qua đời và để lại di chúc hợp pháp, di sản sẽ được phân chia theo nội dung di chúc. Tuy nhiên, để xác định người được chỉ định có thực sự được hưởng toàn bộ tài sản hay không, cần làm rõ ba vấn đề quan trọng: di chúc có hợp pháp hay không, tài sản được định đoạt có thực sự thuộc di sản của người chết hay không và có người thừa kế nào được pháp luật bảo vệ quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không. Chỉ khi giải quyết đầy đủ những vấn đề này mới có thể xác định chính xác quyền lợi của người được chỉ định.
Ví dụ, ông A lập di chúc để lại toàn bộ căn nhà và thửa đất rộng 500m² cho người con trai út là B. Di chúc được công chứng hợp pháp và thể hiện rõ ý chí của ông A. Sau khi ông A qua đời, B cho rằng mình đương nhiên được hưởng toàn bộ nhà đất vì đã có di chúc. Tuy nhiên, nếu căn nhà và thửa đất là tài sản chung của ông A và vợ thì ông A chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người vợ không trở thành di sản của ông A chỉ vì được ghi trong di chúc. Đồng thời, nếu người vợ thuộc trường hợp được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì quyền lợi của người này còn phải được xem xét theo quy định pháp luật.
Một vấn đề khác cần lưu ý là di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế theo Điều 643 Bộ luật Dân sự. Thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có tài sản chết theo Điều 611 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, khi người lập di chúc còn sống, người được chỉ định chưa đương nhiên trở thành chủ sở hữu tài sản chỉ dựa trên nội dung di chúc. Người lập di chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc theo quy định pháp luật, đồng thời có thể thực hiện các giao dịch hợp pháp đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Đặc biệt, việc di chúc được công chứng hoặc chứng thực là căn cứ quan trọng để đánh giá tính hợp pháp về hình thức và quá trình lập di chúc, nhưng không có nghĩa mọi nội dung định đoạt tài sản đều chắc chắn có hiệu lực. Nếu người lập di chúc định đoạt tài sản không thuộc quyền của mình hoặc nội dung di chúc xâm phạm những quyền lợi được pháp luật bảo vệ, phần định đoạt tương ứng vẫn cần được xem xét theo quy định. Như vậy, di chúc hợp pháp là căn cứ quan trọng để phân chia di sản nhưng không bảo đảm người được chỉ định đương nhiên được hưởng toàn bộ tài sản ghi trong di chúc. Quyền hưởng di sản phải được xác định trên cơ sở phạm vi tài sản của người chết, nội dung di chúc và những quy định pháp luật có liên quan.
Những ai vẫn được hưởng di sản dù không có tên trong di chúc hoặc đã bị truất quyền thừa kế?
Một trong những quy định đặc biệt quan trọng của pháp luật thừa kế là cơ chế bảo vệ quyền lợi của một số người thân thích gần gũi với người để lại di sản. Đây cũng là nguyên nhân khiến nhiều trường hợp người lập di chúc đã chỉ định một người hưởng toàn bộ tài sản nhưng người đó vẫn không được nhận toàn bộ di sản. Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên mà không có khả năng lao động của người để lại di sản. Những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó.
Quy định này thể hiện sự cân bằng giữa quyền tự do định đoạt tài sản của người lập di chúc và việc bảo vệ những người có quan hệ gia đình đặc biệt. Pháp luật cho phép cá nhân quyết định để lại tài sản cho người mình lựa chọn, nhưng đồng thời đặt ra giới hạn nhất định nhằm bảo đảm quyền lợi của những chủ thể thuộc diện được hưởng thừa kế bắt buộc.
Ví dụ, ông A qua đời và để lại di sản riêng trị giá 1,2 tỷ đồng. Ông A có vợ và hai người con đều đã thành niên, có khả năng lao động. Trước khi chết, ông A lập di chúc hợp pháp để lại toàn bộ di sản cho người con trai cả. Giả sử cha mẹ ông A đã qua đời, không có người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất và không phát sinh những yếu tố pháp lý khác ảnh hưởng đến việc chia di sản, nếu chia theo pháp luật thì ba người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ và hai người con sẽ được hưởng mỗi người 400 triệu đồng. Khi đó, người vợ thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên về nguyên tắc được hưởng ít nhất hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, tương đương khoảng 266,67 triệu đồng. Phần di sản còn lại mới được xem xét phân chia theo nội dung di chúc.
Trong trường hợp này, mặc dù di chúc chỉ định người con trai cả được hưởng toàn bộ di sản, người này vẫn không thể mặc nhiên nhận đủ 1,2 tỷ đồng nếu việc thực hiện di chúc phải bảo đảm phần di sản bắt buộc của người vợ.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng không phải mọi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Đối với con đã thành niên, pháp luật chỉ bảo vệ quyền hưởng di sản bắt buộc nếu người đó không có khả năng lao động. Do đó, người con đã thành niên và có khả năng lao động không đương nhiên được yêu cầu chia di sản chỉ vì mình là con ruột của người chết nhưng không được nhắc đến trong di chúc. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 644 Bộ luật Dân sự quy định cơ chế thừa kế bắt buộc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc người không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp, cần kiểm tra đầy đủ điều kiện hưởng thừa kế của từng người, không chỉ dựa vào quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân.
Đặc biệt, việc xác định con thành niên không có khả năng lao động phải dựa trên tình trạng thực tế và chứng cứ phù hợp. Không thể mặc nhiên đồng nhất việc không có việc làm, thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn kinh tế với tình trạng không có khả năng lao động theo quy định pháp luật. Như vậy, ngay cả khi di chúc hợp pháp và chỉ định một người hưởng toàn bộ di sản, một số người thân thích vẫn có thể được hưởng phần di sản bắt buộc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự. Đây là giới hạn quan trọng đối với quyền định đoạt tài sản bằng di chúc và thường là vấn đề trọng tâm trong các tranh chấp thừa kế.
Di chúc để lại toàn bộ nhà đất nhưng đó là tài sản chung của vợ chồng thì giải quyết như thế nào?
Trong các tranh chấp thừa kế tại Việt Nam, nhà đất thường là tài sản có giá trị lớn nhất và cũng là nguyên nhân phổ biến dẫn đến mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình. Đáng chú ý, nhiều người lập di chúc cho rằng toàn bộ nhà đất đang đứng tên mình đều thuộc quyền sở hữu riêng nên có thể tự quyết định để lại cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với nhà đất không chỉ phụ thuộc vào tên người được ghi trên Giấy chứng nhận mà còn phải xem xét nguồn gốc hình thành tài sản, thời điểm xác lập quyền và chế độ tài sản của vợ chồng.
Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Quy định này có ý nghĩa quyết định khi xác định phạm vi tài sản được phân chia theo di chúc. Nếu một tài sản thuộc sở hữu chung thì người chết chỉ có quyền để lại phần tài sản thuộc quyền của mình, trừ trường hợp có căn cứ pháp luật khác làm thay đổi việc xác định quyền sở hữu.
Ví dụ, ông A và bà B kết hôn hợp pháp, trong thời kỳ hôn nhân cùng tạo lập một thửa đất rộng 400m² và xây dựng căn nhà trên đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên ông A. Trước khi qua đời, ông A lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho người con trai út là C. Sau khi ông A mất, C yêu cầu bà B và các anh chị em khác giao toàn bộ tài sản theo nội dung di chúc.
Trong trường hợp này, cần xác định nhà đất có phải tài sản chung của vợ chồng ông A, bà B hay không. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những tài sản khác được xác lập theo quy định trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc thuộc tài sản chung, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác. Đối với quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn, việc xác định tài sản chung hay riêng phải căn cứ vào nguồn gốc và những ngoại lệ luật định.
Nếu có đủ căn cứ xác định nhà đất là tài sản chung của ông A và bà B, phần tài sản thuộc quyền của bà B không phải di sản thừa kế của ông A. Trường hợp không có thỏa thuận hoặc căn cứ khác làm thay đổi tỷ lệ sở hữu, việc xác định phần tài sản của mỗi người thường được xem xét trên cơ sở nguyên tắc sở hữu chung và các quy định liên quan. Sau khi xác định phần tài sản thuộc quyền của ông A, mới có cơ sở xem xét hiệu lực di chúc đối với phần di sản này. Giả sử toàn bộ nhà đất được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng, mỗi người có quyền đối với một nửa giá trị tài sản. Khi ông A qua đời, chỉ phần một nửa thuộc quyền của ông A được xác định là di sản để lại. Phần một nửa thuộc quyền của bà B vẫn là tài sản của bà B và không thể bị chuyển giao cho C chỉ vì nội dung di chúc của ông A. Đối với phần di sản của ông A, còn phải xem xét quyền hưởng thừa kế bắt buộc của bà B và những người khác nếu thuộc trường hợp Điều 644 Bộ luật Dân sự.
Đặc biệt, trong nhiều gia đình, nhà đất có nguồn gốc do cha mẹ để lại nhưng chưa thực hiện đầy đủ thủ tục khai nhận, phân chia di sản. Một người con có thể là người trực tiếp quản lý đất hoặc đứng tên Giấy chứng nhận, nhưng việc xác định quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ thửa đất vẫn cần căn cứ vào quá trình hình thành quyền, các giao dịch và những tài liệu liên quan. Nếu tài sản thực chất thuộc quyền chung của nhiều người, một cá nhân không thể chỉ bằng di chúc của mình mà định đoạt hợp pháp phần quyền thuộc những người khác.
Đối với trường hợp di chúc định đoạt cả tài sản không thuộc quyền của người lập di chúc, cần xem xét khả năng di chúc chỉ có hiệu lực đối với phần tài sản thuộc quyền của người đó. Việc một phần nội dung di chúc không có hiệu lực không nhất thiết làm toàn bộ di chúc vô hiệu nếu các phần còn lại đáp ứng điều kiện pháp luật và có thể được thực hiện độc lập. Như vậy, khi di chúc liên quan đến nhà đất, việc đầu tiên cần làm không phải là xác định ai được ghi tên trong di chúc mà là xác định chính xác phần tài sản thuộc quyền của người chết. Chỉ phần tài sản đó mới được xem xét phân chia theo di chúc, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi của những người thừa kế bắt buộc nếu có.
Di chúc được công chứng, chứng thực có chắc chắn hợp pháp và được thực hiện toàn bộ không?
Trong thực tế, nhiều người cho rằng di chúc đã được công chứng hoặc chứng thực thì không thể bị tranh chấp, không thể bị tuyên vô hiệu và Tòa án bắt buộc phải công nhận toàn bộ nội dung. Tuy nhiên, đây là quan niệm chưa chính xác. Việc công chứng, chứng thực có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị pháp lý của di chúc, nhưng không loại trừ khả năng phát sinh tranh chấp về điều kiện lập di chúc, phạm vi tài sản được định đoạt hoặc hiệu lực của từng nội dung.
Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng những điều kiện về chủ thể lập di chúc, ý chí tự nguyện, nội dung và hình thức. Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức di chúc không trái quy định pháp luật.
Ví dụ, cụ A đã cao tuổi, sức khỏe suy giảm và lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho một người con. Sau khi cụ A qua đời, những người con khác cho rằng tại thời điểm lập di chúc, cụ A không còn đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, việc di chúc đã được công chứng hoặc chứng thực là chứng cứ quan trọng, nhưng nếu có tranh chấp thì Tòa án vẫn phải xem xét những chứng cứ liên quan đến tình trạng nhận thức, ý chí của người lập di chúc và trình tự lập di chúc.
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng không thể chỉ dựa vào tuổi cao, tình trạng sức khỏe yếu hoặc việc người lập di chúc có bệnh lý để mặc nhiên kết luận di chúc vô hiệu. Điều quan trọng là xác định tại thời điểm lập di chúc, người đó có minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện thể hiện ý chí hay không. Việc đánh giá phải dựa trên chứng cứ khách quan, phù hợp với quy định pháp luật. Một vấn đề khác thường phát sinh là di chúc có nhiều nội dung định đoạt khác nhau nhưng chỉ một phần không đáp ứng điều kiện có hiệu lực. Theo khoản 4 Điều 643 Bộ luật Dân sự, khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt giữa di chúc vô hiệu toàn bộ và di chúc vô hiệu một phần.
Chẳng hạn, một người lập di chúc để lại hai thửa đất cho hai người con khác nhau. Sau khi người đó qua đời, xác định một thửa đất thuộc tài sản riêng của người lập di chúc, còn thửa đất kia là tài sản chung với người khác. Trong trường hợp này, cần xem xét hiệu lực của từng nội dung định đoạt và phạm vi quyền của người lập di chúc. Không thể chỉ vì một nội dung định đoạt vượt quá quyền sở hữu mà mặc nhiên phủ nhận toàn bộ những nội dung còn lại. Đặc biệt, khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự còn quy định di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong những trường hợp nhất định, chẳng hạn người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế hoặc di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Nếu di sản chỉ còn một phần thì phần di chúc liên quan đến phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực theo quy định.
Ngoài ra, người được chỉ định trong di chúc cũng phải đáp ứng điều kiện hưởng thừa kế. Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự, một số người có hành vi đặc biệt nghiêm trọng như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản có thể không được quyền hưởng di sản nếu thuộc trường hợp luật định. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định ngoại lệ đối với trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi của người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Như vậy, di chúc được công chứng, chứng thực không đồng nghĩa với việc mọi nội dung đều chắc chắn được thực hiện. Khi có tranh chấp, cần đánh giá điều kiện hợp pháp, phạm vi tài sản, thời điểm có hiệu lực và những căn cứ có thể làm di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần.
Khi một người giữ di chúc và yêu cầu nhận toàn bộ nhà đất, những người thừa kế khác cần làm gì?
Trong nhiều vụ tranh chấp thừa kế, sau khi cha mẹ qua đời, một người con giữ bản di chúc, quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho rằng mình là người duy nhất có quyền đối với toàn bộ nhà đất. Những người thừa kế khác có thể bị yêu cầu rời khỏi nhà, không được tiếp cận tài sản hoặc không được cung cấp bản sao di chúc. Tình huống này thường khiến mâu thuẫn gia đình trở nên gay gắt, đặc biệt khi di sản là nơi ở duy nhất hoặc tài sản có giá trị lớn.
Trước hết, những người có quyền lợi liên quan cần xác định rõ nội dung di chúc và tình trạng pháp lý của tài sản. Việc một người đang giữ bản di chúc hoặc Giấy chứng nhận không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên có quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản. Cần kiểm tra di chúc được lập vào thời điểm nào, có đáp ứng điều kiện hợp pháp hay không, người lập di chúc có quyền định đoạt đối với toàn bộ tài sản hay chỉ một phần và có người thừa kế nào thuộc diện được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không.
Ví dụ, cụ A qua đời và để lại di chúc cho người con trai út hưởng toàn bộ thửa đất rộng 600m². Sau khi cụ A mất, người con trai út yêu cầu các anh chị em khác ký văn bản từ chối nhận di sản để thực hiện thủ tục sang tên. Tuy nhiên, nếu thửa đất có nguồn gốc là tài sản chung của cụ A với người vợ đã chết trước đó và phần di sản của người vợ chưa được phân chia, cần xác định quyền thừa kế đối với phần di sản của người vợ trước khi xem xét phạm vi di sản của cụ A. Di chúc của cụ A không thể tự động định đoạt phần tài sản vốn thuộc quyền của những người thừa kế khác.
Trong trường hợp này, việc nghiên cứu nguồn gốc nhà đất, thời điểm hình thành tài sản và quá trình thừa kế qua các thế hệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một di chúc có thể hợp pháp về hình thức và thể hiện đúng ý chí của người lập nhưng vẫn không đủ căn cứ để xác định người được chỉ định có quyền đối với toàn bộ thửa đất.
Bên cạnh đó, cần kiểm tra thời hiệu yêu cầu chia di sản. Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Khi hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản theo quy định; nếu không có người thừa kế đang quản lý thì việc xác định chủ thể có quyền đối với di sản được thực hiện theo các trường hợp tiếp theo của điều luật.
Đặc biệt, thời hiệu yêu cầu chia di sản cần được phân biệt với thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Theo khoản 2 Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Việc lựa chọn yêu cầu khởi kiện và xác định thời hiệu phải căn cứ vào bản chất tranh chấp, không thể áp dụng máy móc một thời hạn cho mọi yêu cầu liên quan đến thừa kế.
Trong thực tế, nếu các bên không thể tự thỏa thuận, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế theo quy định pháp luật. Tùy trường hợp, yêu cầu có thể liên quan đến việc xác định di sản, công nhận hoặc không công nhận hiệu lực di chúc, xác định phần tài sản chung, chia di sản hoặc bảo vệ quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Để bảo vệ quyền lợi, người khởi kiện cần chuẩn bị những tài liệu chứng minh quan hệ thừa kế, nguồn gốc tài sản, thời điểm mở thừa kế, quá trình quản lý di sản và những tình tiết liên quan đến hiệu lực di chúc. Đối với tranh chấp nhà đất, hồ sơ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài liệu về quá trình tạo lập tài sản và những giao dịch phát sinh có thể là chứng cứ đặc biệt quan trọng.
Ngoài ra, người thừa kế cần thận trọng khi ký văn bản từ chối nhận di sản, văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc những giấy tờ liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất. Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nhưng việc từ chối phải đáp ứng điều kiện luật định. Việc ký văn bản khi chưa hiểu rõ quyền lợi của mình có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khó khắc phục.
Như vậy, khi một người căn cứ vào di chúc để yêu cầu nhận toàn bộ nhà đất, những người thừa kế khác cần kiểm tra tính hợp pháp của di chúc, phạm vi di sản, quyền thừa kế bắt buộc và thời hiệu yêu cầu chia di sản. Việc có di chúc không loại trừ quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người có liên quan.
DI CHÚC LÀ CĂN CỨ QUAN TRỌNG NHƯNG KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG QUYẾT ĐỊNH TOÀN BỘ QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
Di chúc là phương thức thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạt tài sản sau khi chết và được pháp luật dân sự bảo vệ. Tuy nhiên, có di chúc không đồng nghĩa với việc người được chỉ định đương nhiên được hưởng toàn bộ tài sản ghi trong di chúc. Để xác định quyền hưởng di sản, cần xem xét đầy đủ điều kiện hợp pháp của di chúc, phạm vi tài sản thuộc quyền của người lập di chúc, quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và những căn cứ có thể làm di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần.
Đặc biệt, đối với di sản là nhà đất, việc xác định nguồn gốc tài sản và quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp có ý nghĩa quyết định. Một người không thể thông qua di chúc để định đoạt phần tài sản thuộc quyền của người khác, kể cả khi toàn bộ tài sản đang được ghi tên mình trên Giấy chứng nhận. Bên cạnh đó, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự vẫn có thể được hưởng phần di sản theo quy định, dù không được nhắc đến trong di chúc hoặc chỉ được chỉ định hưởng phần tài sản ít hơn mức pháp luật bảo vệ.
Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp thừa kế, các bên không nên chỉ dựa vào sự tồn tại của di chúc để khẳng định quyền lợi mà cần nghiên cứu toàn diện hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật và lựa chọn phương án giải quyết phù hợp. Luật Công Tâm hỗ trợ tư vấn pháp luật thừa kế, đánh giá hiệu lực di chúc, xác định di sản và hàng thừa kế, nghiên cứu nguồn gốc nhà đất, tư vấn quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, soạn thảo đơn khởi kiện và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trong các vụ án tranh chấp thừa kế tại Tòa án.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0338541285 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
