Tranh chấp phân chia di sản thừa kế, đặc biệt là thừa kế quyền sử dụng đất, thường phát sinh sau khi người để lại di sản đã mất nhiều năm. Khi các thành viên trong gia đình không thể tự thỏa thuận, một hoặc nhiều người thừa kế lựa chọn khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu xác định di sản, xác định hàng thừa kế và phân chia tài sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên, không ít trường hợp người khởi kiện chuẩn bị rất nhiều giấy tờ, gửi đơn đến Tòa án nhưng sau một thời gian lại nhận được Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, thậm chí Thông báo trả lại đơn khởi kiện. Nhiều người lập tức cho rằng Tòa án “không nhận vụ án” hoặc mình “không có quyền thừa kế”.
Cách hiểu này chưa chính xác. Việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện và việc Tòa án xét xử bác yêu cầu khởi kiện là hai vấn đề pháp lý hoàn toàn khác nhau. Trả lại đơn thường liên quan đến điều kiện khởi kiện, thẩm quyền, nội dung đơn, thủ tục tố tụng hoặc việc người khởi kiện không thực hiện đúng yêu cầu sửa đổi, bổ sung. Trong khi đó, việc một người có thực sự được hưởng di sản hay không chỉ được giải quyết trên cơ sở chứng cứ và quy định pháp luật khi vụ án đã được thụ lý, giải quyết theo trình tự tố tụng. Đáng chú ý, trong vụ án thừa kế, chỉ cần xác định sai người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, di sản, thửa đất tranh chấp, yêu cầu khởi kiện hoặc Tòa án có thẩm quyền thì hồ sơ có thể bị yêu cầu sửa đổi, bổ sung ngay từ bước đầu. Vậy vì sao đơn khởi kiện chia di sản thừa kế bị trả lại? Tòa án có được tùy ý trả đơn không? Hồ sơ thiếu sổ đỏ có khởi kiện được không? Không biết địa chỉ của một người thừa kế thì xử lý thế nào? Và khi nhận Thông báo trả lại đơn, người khởi kiện cần làm gì?
Trả lại đơn khởi kiện chia thừa kế có đồng nghĩa không được hưởng di sản?
Đây là vấn đề đầu tiên người khởi kiện phải phân biệt. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi nhận đơn, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và xử lý theo các phương án luật định như yêu cầu sửa đổi, bổ sung; tiến hành thủ tục thụ lý; chuyển đơn cho Tòa án có thẩm quyền hoặc trả lại đơn nếu thuộc trường hợp pháp luật quy định. Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cụ thể các trường hợp Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện. Chẳng hạn, người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; chưa có đủ điều kiện khởi kiện trong trường hợp pháp luật quy định phải có điều kiện; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ những ngoại lệ luật định; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu; người khởi kiện rút đơn… Như vậy, trả lại đơn là quyết định về mặt tố tụng, không phải bản án xác định người khởi kiện không có quyền hưởng thừa kế.
Ví dụ, A là con của người để lại di sản và có căn cứ cho rằng mình thuộc hàng thừa kế thứ nhất. A gửi đơn yêu cầu chia một thửa đất nhưng gửi nhầm đến Tòa án không có thẩm quyền. Việc hồ sơ không được thụ lý tại Tòa án đó không làm A mất tư cách người thừa kế. A cần xác định lại đúng thẩm quyền và thực hiện thủ tục phù hợp.
Tương tự, nếu đơn chưa thể hiện rõ yêu cầu muốn chia di sản theo pháp luật, yêu cầu công nhận di chúc hay yêu cầu hủy một giao dịch liên quan đến di sản, Tòa án có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung. Đây là vấn đề về cách xác định phạm vi khởi kiện chứ chưa phải kết luận ai thắng, ai thua. Do đó, khi nhận thông báo của Tòa án, việc đầu tiên phải làm là đọc chính xác Tòa yêu cầu sửa đơn hay đã trả lại đơn và căn cứ vào điểm, khoản nào của Điều 192 BLTTDS.
Đơn khởi kiện không đầy đủ nội dung – lỗi tưởng nhỏ nhưng rất thường gặp
Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định những nội dung chủ yếu mà đơn khởi kiện phải có. Đối với một vụ án chia di sản thừa kế, yêu cầu này đặc biệt quan trọng bởi quan hệ tranh chấp thường có nhiều người và nhiều tài sản. Một đơn khởi kiện chỉ ghi: “Bố mẹ tôi mất để lại một mảnh đất, anh tôi đang quản lý nên đề nghị Tòa án chia thừa kế theo quy định” thường chưa đủ để Tòa án xác định chính xác phạm vi tranh chấp. Người khởi kiện cần trình bày nguồn gốc tài sản, người để lại di sản, thời điểm mở thừa kế, những người có liên quan, quá trình quản lý tài sản và đặc biệt là yêu cầu cụ thể đề nghị Tòa án giải quyết.
Ví dụ, nếu tài sản là quyền sử dụng đất, cần xác định trong khả năng có thể các thông tin như địa chỉ thửa đất, số thửa, tờ bản đồ, diện tích, người đang đứng tên Giấy chứng nhận, người đang trực tiếp quản lý và nguồn gốc hình thành quyền sử dụng đất. Nếu có di chúc, cần nói rõ yêu cầu phân chia theo di chúc hay đang tranh chấp về hiệu lực của chính di chúc đó.
Điều 193 BLTTDS quy định trường hợp đơn khởi kiện không có đủ nội dung theo khoản 4 Điều 189 thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ vấn đề cần sửa đổi, bổ sung và ấn định thời hạn để người khởi kiện thực hiện. Nếu sửa đổi, bổ sung đúng yêu cầu thì Tòa án tiếp tục xử lý đơn. Nếu không thực hiện theo yêu cầu thì mới phát sinh hậu quả tố tụng tương ứng. Đây là điểm rất quan trọng: không phải cứ đơn viết thiếu là Tòa án được lập tức trả lại đơn. Cần kiểm tra Tòa án đã thực hiện đúng thủ tục yêu cầu sửa đổi, bổ sung hay chưa và người khởi kiện đã thực hiện đầy đủ trong thời hạn hay chưa. Vì vậy, một đơn khởi kiện thừa kế tốt không cần kể dài dòng mọi mâu thuẫn gia đình, nhưng phải giúp Tòa án trả lời được ba vấn đề: tranh chấp giữa những ai – tranh chấp đối với di sản nào – người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chính xác điều gì.
Xác định sai Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế
Đây là một trong những lỗi phổ biến nhất, đặc biệt khi di sản là bất động sản. Trước hết, tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án mới chỉ là bước đầu. Người khởi kiện còn phải xác định đúng cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ theo pháp luật tố tụng hiện hành. Đối với tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản, quy tắc thẩm quyền theo lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt. Vì vậy, không thể mặc nhiên cho rằng cứ mình đang sống ở đâu thì nộp đơn tại Tòa án ở đó.
Ví dụ, người khởi kiện hiện sinh sống tại Hà Nội, bị đơn sinh sống tại Nghệ An nhưng di sản tranh chấp là một thửa đất tại Thanh Hóa. Nếu đối tượng tranh chấp là chính quyền sử dụng thửa đất, phải xác định thẩm quyền theo quy định áp dụng đối với bất động sản chứ không được lựa chọn Tòa án chỉ dựa trên sự thuận tiện của người khởi kiện.
Ngoài ra, trong một số vụ án còn xuất hiện yếu tố nước ngoài: người thừa kế đang định cư ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài hoặc cần thực hiện hoạt động tố tụng ngoài lãnh thổ Việt Nam. Khi đó, vấn đề thẩm quyền có thể phức tạp hơn đáng kể. Do hệ thống tổ chức Tòa án và quy định pháp luật đã có thay đổi trong thời gian gần đây, khi nộp đơn trong năm 2026, người khởi kiện cần đối chiếu quy định tố tụng và cơ cấu Tòa án đang có hiệu lực tại thời điểm nộp đơn, không nên sao chép tên Tòa án từ những mẫu đơn cũ trên Internet. Sai thẩm quyền không làm mất quyền khởi kiện, nhưng có thể khiến quá trình giải quyết bị kéo dài đáng kể.
Không xác định đầy đủ người thừa kế và người tham gia tố tụng
Đây là lỗi rất nguy hiểm trong các vụ án phân chia di sản. Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hàng thừa kế theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ và con nuôi của người chết. Những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau khi chia thừa kế theo pháp luật. Nhưng thực tế gia đình thường phức tạp hơn nhiều. Người để lại di sản có thể có con riêng, con nuôi, cha hoặc mẹ còn sống tại thời điểm mở thừa kế; một người con có thể đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, từ đó phát sinh vấn đề thừa kế thế vị theo Điều 652 BLDS 2015. Cũng có trường hợp sau khi người để lại di sản chết, một người thừa kế tiếp tục chết trong thời gian di sản chưa được chia, khiến quyền hưởng phần di sản của họ lại trở thành một phần di sản trong quan hệ thừa kế tiếp theo. Nếu người khởi kiện chỉ đưa những người mình đang mâu thuẫn vào đơn mà bỏ qua những người có quyền lợi liên quan, quá trình giải quyết chắc chắn gặp khó khăn.
Tuy nhiên, cũng cần nói chính xác rằng không phải cứ thiếu tên một người thừa kế trong đơn là Tòa án mặc nhiên được trả lại đơn. Trong quá trình tố tụng, Tòa án có trách nhiệm xác định tư cách đương sự và đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia nếu việc giải quyết vụ án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ. Vấn đề đáng lo hơn là người khởi kiện cố tình che giấu người thừa kế, cung cấp sai địa chỉ hoặc trình bày không trung thực về quan hệ nhân thân, khiến việc xác định đương sự và tống đạt gặp trở ngại.
Đặc biệt, không nên vội kết luận “không biết người đó hiện ở đâu nên không thể khởi kiện”. BLTTDS có cơ chế xử lý đối với trường hợp người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú mà không thông báo, cố tình giấu địa chỉ hoặc thuộc những trường hợp khác mà pháp luật quy định. Cần phân biệt thực sự không biết địa chỉ với trường hợp bên kia cố tình che giấu nơi cư trú.
Yêu cầu khởi kiện không rõ ràng, không xác định được di sản cần chia
Một vụ án chia thừa kế chỉ có thể giải quyết hiệu quả khi xác định được di sản là gì và phần nào thực sự thuộc sở hữu của người chết. Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Quy định này đặc biệt quan trọng với quyền sử dụng đất.
Ví dụ, Giấy chứng nhận đứng tên người cha nhưng thửa đất được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và có căn cứ xác định là tài sản chung của cha mẹ. Khi người cha mất trước, không thể mặc nhiên lấy toàn bộ thửa đất chia cho những người thừa kế của cha. Trước hết phải xác định phần quyền tài sản thuộc về cha trong khối tài sản chung; chỉ phần đó mới là di sản của cha.
Ngược lại, có trường hợp sổ đỏ đang đứng tên một người con nhưng nguyên đơn cho rằng đất thực chất là di sản của bố mẹ, người con chỉ đứng tên thay. Khi đó, tranh chấp không đơn thuần là lấy Giấy chứng nhận ra rồi chia. Người khởi kiện phải đưa ra căn cứ chứng minh nguồn gốc tài sản và có thể cần đặt thêm yêu cầu liên quan đến Giấy chứng nhận hoặc giao dịch đã được thực hiện đối với đất. Một lỗi khác là yêu cầu quá chung chung: “Đề nghị chia cho tôi phần tôi được hưởng.” Nếu muốn nhận hiện vật, muốn giao toàn bộ nhà đất cho một người và thanh toán chênh lệch cho những người còn lại, yêu cầu hủy di chúc, công nhận di chúc, xác định một giao dịch định đoạt di sản vô hiệu hoặc yêu cầu xử lý tài sản đã chuyển nhượng cho người thứ ba thì cần xác định rõ phạm vi yêu cầu. Đơn càng rõ thì phạm vi Tòa án phải xem xét càng rõ. Đây không chỉ là vấn đề hình thức mà còn liên quan trực tiếp đến chiến lược tố tụng của nguyên đơn.
Chưa đáp ứng điều kiện khởi kiện hoặc không có quyền khởi kiện
Điểm a và điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định hai nhóm căn cứ đáng chú ý: người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật. Trong tranh chấp thừa kế, trước hết người khởi kiện phải chứng minh mình có quyền, lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ. Tài liệu thường được sử dụng gồm giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, tài liệu hộ tịch, quyết định công nhận nuôi con nuôi, di chúc hoặc các chứng cứ khác chứng minh quan hệ với người để lại di sản.
Tuy nhiên, cần tránh hiểu “chứng minh quyền khởi kiện” thành yêu cầu ngay khi nộp đơn phải chứng minh chắc chắn mình sẽ thắng kiện. Hai việc hoàn toàn khác nhau. Giai đoạn xem xét đơn không phải phiên xét xử để Tòa án đánh giá toàn bộ chứng cứ rồi kết luận nguyên đơn có thực sự được hưởng bao nhiêu di sản. Một vấn đề khác thường gây nhầm lẫn là hòa giải tại UBND cấp xã. Không phải mọi tranh chấp có liên quan đến đất đều bắt buộc phải hòa giải tại UBND xã trước khi khởi kiện. Cần xác định chính xác bản chất tranh chấp là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất hay tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất, đồng thời đối chiếu Luật Đất đai 2024 để xác định thủ tục tiền tố tụng tương ứng. Nếu áp dụng máy móc yêu cầu hòa giải bắt buộc cho mọi vụ chia thừa kế có đất, người khởi kiện có thể mất thêm thời gian không cần thiết. Ngược lại, nếu vụ việc thực chất thuộc trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện thủ tục trước khi khởi kiện mà chưa thực hiện thì lại có nguy cơ chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Không sửa đổi, bổ sung đơn theo yêu cầu của Tòa án
Đây là nguyên nhân hoàn toàn có thể tránh được nhưng xảy ra rất thường xuyên. Theo Điều 193 BLTTDS, nếu đơn chưa đáp ứng yêu cầu về nội dung, Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn luật định. Thông báo phải nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung. Trong vụ án thừa kế, Tòa án có thể yêu cầu làm rõ ngày tháng năm sinh, địa chỉ đương sự; xác định người đang quản lý tài sản; bổ sung thông tin về người để lại di sản; làm rõ yêu cầu chia theo di chúc hay pháp luật; bổ sung tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân hoặc xác định cụ thể tài sản tranh chấp.
Sai lầm thường gặp là người khởi kiện nhận thông báo nhưng không phản hồi, hoặc nộp lại một đơn gần như giống hệt đơn ban đầu. Khi hết thời hạn mà người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Điều 192 BLTTDS cho phép Thẩm phán trả lại đơn trong trường hợp luật định. Nếu có lý do chính đáng khiến không thể thu thập ngay tài liệu Tòa yêu cầu, người khởi kiện không nên im lặng. Cần có văn bản giải trình, đề nghị hướng dẫn hoặc thực hiện các quyền tố tụng phù hợp. Đặc biệt, phải phân biệt giữa thông tin bắt buộc phải thể hiện trong đơn và chứng cứ mà đương sự chưa thể tự mình thu thập. Không phải tài liệu nào chưa lấy được cũng đồng nghĩa không được quyền khởi kiện. BLTTDS có cơ chế để đương sự đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ trong những trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.
Hết thời hiệu chia di sản có phải cứ khởi kiện là bị trả đơn?
Đây là một trong những điểm dễ bị hiểu sai nhất. Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Do đó, không thể hiểu rằng Thẩm phán thấy người để lại di sản đã chết hơn 30 năm thì đương nhiên trả lại đơn vì hết thời hiệu. Hơn nữa, tranh chấp tài sản sau khi hết thời hiệu yêu cầu chia di sản còn có thể phải xem xét các quy định của Điều 623 BLDS và các hướng dẫn có liên quan để xác định tình trạng pháp lý của di sản. Thời điểm mở thừa kế, loại tài sản, quá trình quản lý, thỏa thuận của các đồng thừa kế và yêu cầu cụ thể của các bên đều có ý nghĩa.
Ví dụ, người để lại một thửa đất mất năm 1990 và đến năm 2026 mới phát sinh tranh chấp. Không thể chỉ lấy phép tính “36 năm > 30 năm” rồi kết luận ngay rằng Tòa án không được nhận đơn. Cần nghiên cứu toàn bộ lịch sử sử dụng đất và bản chất yêu cầu đang được đặt ra.
Đây là những vụ việc rất cần luật sư rà soát trước khi lựa chọn quan hệ pháp luật tranh chấp và yêu cầu khởi kiện.
Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng thì phải làm gì?
Người khởi kiện không bắt buộc phải chấp nhận mọi quyết định trả đơn. Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện. Theo đó, trong thời hạn luật định kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn, người khởi kiện có quyền khiếu nại đối với việc trả lại đơn. Do đó, ngay khi nhận Thông báo trả lại đơn, cần kiểm tra ba vấn đề: Tòa viện dẫn căn cứ nào của Điều 192; tình tiết thực tế có đúng với căn cứ đó không; thủ tục trước khi trả đơn đã được thực hiện đúng chưa.
Ví dụ, nếu Tòa cho rằng đơn thiếu nội dung nhưng chưa thực hiện đúng thủ tục yêu cầu sửa đổi, bổ sung theo Điều 193 mà đã trả đơn thì cần kiểm tra tính hợp pháp của việc xử lý. Hoặc nếu Tòa cho rằng vụ việc không thuộc thẩm quyền nhưng người khởi kiện có căn cứ pháp luật chứng minh ngược lại thì có thể thực hiện quyền khiếu nại.
Điều quan trọng là khiếu nại phải đánh trực tiếp vào căn cứ trả đơn, không nên viết một văn bản dài chỉ để trình bày lại toàn bộ mâu thuẫn thừa kế. Nếu Tòa trả đơn vì sai thẩm quyền và xác định được đúng Tòa án có thẩm quyền thì trong nhiều trường hợp, giải pháp hiệu quả hơn lại là hoàn thiện hồ sơ và nộp đúng nơi thay vì kéo dài tranh luận về một vấn đề đã rõ.
Chuẩn bị hồ sơ thế nào để hạn chế nguy cơ bị trả đơn?
Một hồ sơ khởi kiện chia di sản thừa kế tốt nên được xây dựng theo logic nhân thân – di sản – lịch sử pháp lý – người đang quản lý – yêu cầu khởi kiện. Trước hết cần lập sơ đồ quan hệ gia đình của người để lại di sản. Xác định cha, mẹ, vợ/chồng, các con; ai chết trước, ai chết sau; có con nuôi, con riêng hoặc trường hợp thừa kế thế vị hay không. Đây là cách đơn giản nhưng rất hiệu quả để tránh bỏ sót người thừa kế. Tiếp theo phải xác định chính xác khối di sản. Nếu là đất, cần tập hợp Giấy chứng nhận, giấy tờ nguồn gốc đất, hồ sơ cấp sổ nếu có, thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất và tài liệu thể hiện quá trình sử dụng. Nếu tài sản được hình thành trong hôn nhân, phải xem xét đây là tài sản riêng hay tài sản chung trước khi xác định phần di sản.
Sau đó cần rà soát các giao dịch đã phát sinh. Người đang đứng tên sổ có từng bán, tặng cho, thế chấp hoặc kê khai nhận di sản hay chưa? Có văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản nào đã được công chứng, chứng thực không? Có người thừa kế nào bị bỏ sót khi lập các văn bản đó không? Những vấn đề này quyết định việc vụ án chỉ có yêu cầu chia thừa kế hay phải kèm theo yêu cầu xử lý các giao dịch và giấy tờ pháp lý liên quan. Cuối cùng mới xây dựng yêu cầu khởi kiện. Không nên sao chép mẫu trên mạng rồi điền tên. Một vụ án có di chúc, một vụ án thừa kế theo pháp luật và một vụ án mà di sản đã bị chuyển nhượng cho người thứ ba không thể sử dụng cùng một bộ yêu cầu khởi kiện. Đối với tranh chấp có giá trị lớn, việc rà soát ngay từ trước khi nộp đơn thường tiết kiệm nhiều thời gian hơn so với sửa hồ sơ nhiều lần sau khi Tòa án đã có thông báo.
KẾT LUẬN
Đơn khởi kiện phân chia di sản thừa kế bị Tòa án trả lại không đồng nghĩa người khởi kiện không có quyền hưởng thừa kế. Trước hết phải xác định chính xác lý do trả đơn và căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng. Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc trả lại đơn chỉ được thực hiện trong những trường hợp luật định. Nếu đơn chưa đầy đủ nội dung, Điều 193 đặt ra cơ chế yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung. Nếu không đồng ý với việc trả lại đơn, người khởi kiện có quyền thực hiện thủ tục khiếu nại theo Điều 194 BLTTDS.
Đối với vụ án thừa kế, những lỗi cần đặc biệt phòng tránh là xác định sai Tòa án có thẩm quyền; đơn không thể hiện rõ yêu cầu; không xác định được khối di sản; bỏ sót những người có quyền lợi liên quan; không làm rõ quan hệ nhân thân; không sửa đổi đơn theo thông báo của Tòa án hoặc lựa chọn sai quan hệ pháp luật cần giải quyết. Đặc biệt, nếu di sản là đất, không thể chỉ cầm Giấy chứng nhận rồi yêu cầu “chia đều”. Theo Điều 612 BLDS 2015, di sản chỉ bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì vậy, phải xác định chính xác phần nào của thửa đất thực sự là di sản trước khi xác định phần mà từng người thừa kế có thể được hưởng.
Tương tự, không nên cho rằng hết 30 năm kể từ ngày người để lại bất động sản chết thì Tòa án đương nhiên trả đơn. Điều 623 BLDS quy định thời hiệu yêu cầu chia di sản, nhưng việc áp dụng thời hiệu còn phải đặt trong cơ chế của Điều 184 BLTTDS và hoàn cảnh cụ thể của vụ án. Một vụ án thừa kế có thể kéo dài nhiều năm chỉ vì ngay từ đầu khởi kiện sai người, sai tài sản, sai yêu cầu hoặc sai Tòa án. Vì vậy, trước khi nộp đơn, việc quan trọng nhất không phải viết đơn thật dài mà là xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng di sản, đúng đương sự, đúng thẩm quyền và đúng yêu cầu cần Tòa án giải quyết.
📞 THÔNG TIN LIÊN HỆ
VĂN PHÒNG LUẬT CÔNG TÂM
☎ Hotline: 0972810901 – 0969545660
🌐 Website: luatcongtam.com.vn
📧 Email: [email protected]
