Trong một vụ án dân sự, ngoài nguyên đơn và bị đơn, Tòa án có thể xác định thêm một hoặc nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những người tuy không phải người khởi kiện và cũng không phải người bị nguyên đơn khởi kiện ban đầu, nhưng việc Tòa án giải quyết vụ án có liên quan hoặc có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ.
Tuy nhiên, một vấn đề rất dễ bị nhầm lẫn là: đã được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì có cần làm yêu cầu độc lập hay không? Nhiều người cho rằng chỉ cần đến Tòa trình bày “tài sản này là của tôi”, “tôi đề nghị trả lại tiền cho tôi”, “tôi không đồng ý hủy hợp đồng của tôi” thì Tòa án đương nhiên phải giải quyết tất cả những nội dung đó. Ngược lại, cũng có người cho rằng cứ được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì nhất thiết phải nộp đơn yêu cầu độc lập.
Cả hai cách hiểu đều chưa chính xác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng với bên nguyên đơn, với bên bị đơn hoặc có yêu cầu độc lập khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Việc có cần đưa ra yêu cầu độc lập hay không phụ thuộc vào điều người đó thực sự muốn Tòa án giải quyết.
Nếu chỉ cần bảo vệ quyền lợi của mình trước yêu cầu mà nguyên đơn hoặc bị đơn đã đưa ra thì chưa chắc phải có yêu cầu độc lập. Nhưng nếu muốn Tòa án tuyên cho mình một quyền lợi riêng, buộc một bên giao tài sản, trả tiền, công nhận quyền sử dụng đất, tuyên hợp đồng vô hiệu hoặc giải quyết một quan hệ mà các yêu cầu hiện có chưa bao quát thì phải đặc biệt xem xét việc đưa ra yêu cầu độc lập.
Trước hết phải hiểu đúng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ai
Theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Họ có thể tự mình đề nghị hoặc được đương sự khác đề nghị và được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng; trường hợp việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người mà không có ai đề nghị thì Tòa án vẫn phải đưa người đó vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ví dụ, A khởi kiện B yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa A và B vô hiệu, nhưng sau giao dịch B đã chuyển quyền sử dụng đất cho C. Kết quả giải quyết tranh chấp giữa A và B có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền đối với thửa đất mà C đang đứng tên. Khi đó, C có thể phải tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hay trong vụ án tranh chấp di sản, một người thuộc diện thừa kế dù không phải nguyên đơn hoặc bị đơn nhưng quyền hưởng di sản của họ có thể bị ảnh hưởng bởi bản án thì việc xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng cần được xem xét.
Điểm quan trọng là tư cách “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” và việc “có yêu cầu độc lập” không phải một khái niệm. Một người hoàn toàn có thể tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không đưa ra yêu cầu độc lập. Chỉ khi họ muốn Tòa án giải quyết một yêu cầu riêng của mình thì mới cần tiếp tục xem xét các điều kiện của yêu cầu độc lập.
Khi nào người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần đưa ra yêu cầu độc lập?
Căn cứ quan trọng nhất là Điều 201 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định này, trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn thì họ có quyền đưa ra yêu cầu độc lập khi đồng thời đáp ứng ba điều kiện: việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; yêu cầu độc lập có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; và việc giải quyết yêu cầu đó trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Có thể hiểu đơn giản rằng yêu cầu độc lập xuất hiện khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chỉ muốn “phản đối” yêu cầu của người khác mà muốn Tòa án giải quyết một quyền lợi cụ thể cho chính mình. Chẳng hạn, A kiện B đòi lại một căn nhà. C được đưa vào vụ án vì đang quản lý căn nhà đó. Nếu C chỉ cho rằng yêu cầu của A không có căn cứ và đề nghị Tòa án bác yêu cầu của A thì phải xem xét nội dung đó trong vị trí tố tụng cụ thể của C. Nhưng nếu C yêu cầu Tòa án công nhận căn nhà thuộc quyền sở hữu của C thì lúc này C đang đề nghị Tòa án đưa ra một phán quyết xác lập quyền trực tiếp cho mình. Vấn đề yêu cầu độc lập cần được đặt ra.
Một cách thực tế để nhận biết là hãy tự hỏi: “Nếu Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn mà không tuyên thêm điều gì cho tôi thì quyền lợi tôi muốn đạt được đã được giải quyết chưa?”. Nếu câu trả lời là chưa và người liên quan muốn phần quyết định của bản án phải tuyên riêng một quyền hoặc nghĩa vụ đối với mình, rất có thể cần xem xét đưa ra yêu cầu độc lập.
Trình bày ý kiến và đưa ra yêu cầu độc lập là hai việc khác nhau
Đây là điểm người tham gia tố tụng rất dễ mắc sai sót. Trong bản tự khai, biên bản lấy lời khai hoặc phiên hòa giải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể nói: “Tôi đề nghị Tòa án công nhận 100 m² đất đó thuộc về tôi”. Sau đó họ cho rằng vì nội dung đã được ghi trong hồ sơ nên Tòa án bắt buộc phải tuyên cho họ 100 m² đất.
Không nên hiểu như vậy. Việc trình bày ý kiến là một quyền tố tụng, nhưng một ý kiến phản bác hoặc lời trình bày về quyền lợi của mình không đương nhiên thay thế thủ tục đưa ra yêu cầu độc lập. Nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan muốn Tòa án chính thức xem xét và ra phán quyết đối với một yêu cầu riêng thì phải xác định yêu cầu đó có phải yêu cầu độc lập hay không và thực hiện thủ tục tương ứng.
Sự khác biệt nằm ở kết quả mà đương sự mong muốn. “Tôi không đồng ý việc nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận của tôi” chủ yếu thể hiện ý kiến đối với yêu cầu đang được giải quyết. Trong khi đó, “Tôi yêu cầu Tòa án công nhận tôi có quyền sử dụng 200 m² đất đang tranh chấp và buộc B giao lại diện tích này cho tôi” là một yêu cầu về quyền lợi cụ thể. Hai nội dung có thể xuất hiện trong cùng một bản trình bày nhưng hậu quả tố tụng không giống nhau.
Không phải cứ có quyền lợi trong vụ án là bắt buộc phải có yêu cầu độc lập
Điều này cần được nhấn mạnh bởi trong thực tế có xu hướng “làm yêu cầu độc lập cho chắc”. Cách làm đó không phải lúc nào cũng cần thiết và đôi khi còn làm vụ án phức tạp hơn.
Theo Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 – Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn. Nếu có yêu cầu độc lập và yêu cầu này liên quan đến việc giải quyết vụ án thì họ có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn đối với yêu cầu đó. Ngược lại, pháp luật cũng xác định địa vị tố tụng tương ứng khi họ tham gia với bên nguyên đơn, bên bị đơn hoặc chỉ có quyền lợi, chỉ có nghĩa vụ.
Ví dụ, A kiện B yêu cầu tuyên hợp đồng mua bán nhà vô hiệu. C là vợ của B và căn nhà được xác định có liên quan đến tài sản chung vợ chồng. Nếu C thống nhất với B rằng hợp đồng có hiệu lực và chỉ tham gia để bảo vệ quan điểm này thì chưa thể kết luận C bắt buộc phải có yêu cầu độc lập. Ngược lại, nếu C cho rằng chính căn nhà là tài sản riêng của mình và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu riêng cho C thì yêu cầu của C đã vượt ra ngoài việc đơn thuần tham gia cùng quan điểm của B. Khi đó cần xem xét yêu cầu độc lập.
Vì vậy, trước khi làm đơn, phải xác định chính xác mục tiêu tố tụng. Đừng làm yêu cầu độc lập chỉ vì mình mang tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhưng cũng đừng bỏ qua yêu cầu độc lập khi quyền lợi mình muốn Tòa án công nhận chưa nằm trong bất kỳ yêu cầu nào đang được giải quyết.
Ví dụ rõ nhất: tranh chấp đất đai có người thứ ba cho rằng đất là của mình
Giả sử A khởi kiện B yêu cầu B trả lại 300 m² đất. Trong quá trình giải quyết vụ án, C xuất hiện và cho rằng trong 300 m² đang tranh chấp có 100 m² do cha mẹ C để lại, C đã quản lý nhiều năm. Tòa án đưa C vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nếu C chỉ trình bày: “Tôi không đồng ý việc A yêu cầu B trả toàn bộ 300 m² vì trong đó có phần đất gia đình tôi đang sử dụng”, đó mới là quan điểm của C về vụ án. Nhưng nếu mục tiêu của C là bản án phải xác định rõ “100 m² thuộc quyền sử dụng của C” thì C cần xem xét đưa ra yêu cầu độc lập về phần đất đó. Khi ấy, Tòa án không chỉ giải quyết câu chuyện A có quyền đòi đất từ B hay không mà còn phải xem xét căn cứ quyền sử dụng đất mà C yêu cầu được công nhận.
Nếu yêu cầu của C được giải quyết ngay trong vụ án thì có thể tránh tình trạng Tòa án xử xong tranh chấp A – B, sau đó C lại phải khởi kiện một vụ án mới về chính phần đất đang nằm trong tổng thể tranh chấp. Đây chính là ý nghĩa của điều kiện tại Điều 201: yêu cầu phải liên quan đến vụ án và việc giải quyết cùng một vụ án giúp giải quyết tranh chấp chính xác, nhanh hơn.
Trong tranh chấp hợp đồng, khi nào người liên quan cần yêu cầu độc lập?
Một ví dụ khác thường gặp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. A kiện B yêu cầu tuyên hợp đồng giữa A và B vô hiệu. Nhưng sau đó B đã có một giao dịch liên quan đến C và quyền của C có khả năng bị ảnh hưởng bởi kết quả giải quyết vụ án. Tòa án đưa C vào tham gia tố tụng.
Nếu C chỉ bảo vệ giao dịch của mình và đề nghị không chấp nhận yêu cầu của A trong phạm vi ảnh hưởng đến quyền lợi của C thì cần xác định địa vị tố tụng của C theo Điều 73. Nhưng nếu C muốn Tòa án buộc B phải tiếp tục thực hiện một nghĩa vụ riêng đối với C, hoàn trả tiền, giao tài sản hoặc công nhận một quyền cụ thể cho C thì đây không còn đơn thuần là ý kiến đối với yêu cầu của A.
Trong trường hợp đó, luật sư cần đọc toàn bộ đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố nếu có và các yêu cầu đã được Tòa án chấp nhận giải quyết. Nếu quyền lợi C mong muốn đã nằm trong phạm vi yêu cầu hiện hữu và C chỉ tham gia cùng một bên thì chưa chắc cần yêu cầu độc lập. Nếu chưa có ai yêu cầu Tòa án giải quyết quyền lợi cụ thể của C thì cần xem xét ngay Điều 201.
Yêu cầu độc lập phải được đưa ra đúng thời điểm
Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất nhưng thường bị bỏ qua. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không được chờ đến bất kỳ thời điểm nào rồi mới đưa ra yêu cầu độc lập.
Khoản 2 Điều 201 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Vì vậy, ngay sau khi nhận được thông báo của Tòa án hoặc biết mình được đưa vào tham gia tố tụng, người liên quan nên nghiên cứu ngay hồ sơ và xác định mình có cần yêu cầu độc lập hay không.
Đừng đợi đến phiên hòa giải mới nói: “Tôi cũng yêu cầu chia cho tôi một phần đất”. Càng không nên đợi đến phiên tòa sơ thẩm mới lần đầu đề nghị: “Tòa công nhận căn nhà này là của tôi”. Khi quyền đưa ra yêu cầu độc lập bị giới hạn bởi thời điểm tố tụng, việc chậm xác định mục tiêu của mình có thể khiến yêu cầu không được giải quyết trong chính vụ án đang diễn ra.
Có yêu cầu độc lập thì phải thực hiện thủ tục như thế nào?
Yêu cầu độc lập không phải chỉ là một câu đề nghị được ghi vào biên bản. Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành – Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập quy định thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.
Điều đó có nghĩa người đưa ra yêu cầu phải xác định rõ mình yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì, đối với ai, dựa trên căn cứ nào và có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Sau khi nộp yêu cầu, cần tiếp tục theo dõi việc Tòa án xem xét yêu cầu, yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung nếu có, thông báo thực hiện nghĩa vụ tài chính tố tụng và việc yêu cầu đã được chấp nhận để giải quyết trong vụ án hay chưa.
Đây cũng là lý do một bản tự khai dài nhiều trang không nhất thiết thay thế được yêu cầu độc lập. Nội dung trình bày có thể rất đầy đủ nhưng nếu người liên quan muốn Tòa án giải quyết một quyền lợi riêng thì vẫn phải bảo đảm yêu cầu được thực hiện theo đúng cơ chế tố tụng.
Người có yêu cầu độc lập phải nộp tạm ứng án phí
Khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập, họ không còn chỉ là người tham gia để trình bày quan điểm. Đối với yêu cầu của mình, họ có quyền và nghĩa vụ tương ứng của nguyên đơn. Một trong những vấn đề cần đặc biệt lưu ý là tạm ứng án phí.
Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp theo quy định. Vì vậy, sau khi nộp yêu cầu độc lập, cần theo dõi thông báo của Tòa án và thực hiện đúng nghĩa vụ trong thời hạn luật định.
Trong thực tế có trường hợp người liên quan nộp đơn yêu cầu nhưng sau đó không thực hiện nghĩa vụ tạm ứng án phí theo thông báo, rồi đến phiên tòa mới cho rằng Tòa án phải giải quyết vì “đơn đã có trong hồ sơ”. Đây là cách hiểu không đầy đủ. Muốn yêu cầu chính thức trở thành đối tượng được xem xét trong vụ án thì phải theo dõi toàn bộ quá trình tố tụng chứ không dừng ở việc nộp một văn bản.
Có yêu cầu độc lập đồng nghĩa phải tự chứng minh cho yêu cầu của mình
Khi một người yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho mình, buộc người khác trả tiền, giao tài sản hoặc tuyên một giao dịch vô hiệu, họ phải chuẩn bị chứng cứ cho chính yêu cầu đó. Không thể chỉ dựa vào việc mình được Tòa án xác định là “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” rồi cho rằng Tòa án có trách nhiệm tự tìm chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Ví dụ, C yêu cầu công nhận 100 m² đất thuộc quyền sử dụng của mình thì cần làm rõ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng, giấy tờ địa chính, việc kê khai, đăng ký và các tài liệu khác có liên quan. Nếu C yêu cầu A trả lại 500 triệu đồng thì phải làm rõ căn cứ giao tiền, mục đích giao tiền, chứng từ, thỏa thuận hoàn trả và nghĩa vụ đã đến hạn hay chưa. Nếu yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu thì phải chỉ ra căn cứ pháp lý và chứng cứ tương ứng.
Vì vậy, yêu cầu độc lập về bản chất cần được chuẩn bị nghiêm túc như một yêu cầu khởi kiện. Phải xác định rõ yêu cầu – căn cứ pháp lý – sự kiện cần chứng minh – chứng cứ hiện có – chứng cứ cần thu thập – hậu quả pháp lý đề nghị Tòa án giải quyết.
Phân biệt yêu cầu độc lập của người liên quan với yêu cầu phản tố của bị đơn
Hai khái niệm này thường bị nhầm vì đều là những yêu cầu xuất hiện sau khi Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện ban đầu. Tuy nhiên, chủ thể đưa ra hoàn toàn khác nhau.
Phản tố là quyền của bị đơn. Bị đơn đưa ra yêu cầu ngược lại đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong những trường hợp luật định. Trong khi đó, yêu cầu độc lập mà bài viết này đề cập là quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đáp ứng Điều 201.
Ví dụ, A kiện B đòi 1 tỷ đồng. B yêu cầu A bồi thường lại 300 triệu đồng và đáp ứng điều kiện phản tố thì đó là yêu cầu phản tố. Nhưng C tham gia vụ án vì cho rằng trong số tiền đang tranh chấp có 200 triệu đồng thuộc về C và C yêu cầu Tòa án buộc một bên hoàn trả 200 triệu đồng cho mình thì phải xem xét yêu cầu của C dưới chế định yêu cầu độc lập. Việc gọi đúng tên yêu cầu giúp xác định đúng chủ thể, thủ tục và phạm vi Tòa án phải giải quyết.
Không đưa ra yêu cầu độc lập thì Tòa án có tự giải quyết quyền lợi cho mình không?
Không nên mặc nhiên kỳ vọng điều đó. Tòa án phải giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu tố tụng theo quy định và xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trên cơ sở những vấn đề thuộc phạm vi vụ án. Việc một người có quyền lợi liên quan đến tài sản đang tranh chấp không có nghĩa Tòa án sẽ tự động tuyên cho họ một quyền lợi riêng mà họ chưa yêu cầu theo đúng thủ tục.
Chẳng hạn, C liên tục trình bày rằng mình đã bỏ 700 triệu đồng vào việc mua căn nhà nhưng không đưa ra một yêu cầu độc lập nào về việc hoàn trả khoản tiền đó. Nếu yêu cầu khởi kiện hiện tại chỉ xoay quanh hiệu lực của một hợp đồng giữa A và B thì không nên mặc nhiên cho rằng bản án sẽ buộc một bên trả C 700 triệu đồng chỉ vì C đã nói về khoản tiền này trong lời khai.
Đây là điểm người tham gia tố tụng cần đặc biệt lưu ý: phải đọc kỹ phạm vi yêu cầu mà Tòa án đang giải quyết và đối chiếu với quyền lợi mình muốn đạt được. Nếu hai phạm vi không trùng nhau thì cần xem xét ngay việc đưa ra yêu cầu độc lập.
Nếu yêu cầu độc lập không được giải quyết trong cùng vụ án thì có mất quyền khởi kiện không?
Không phải cứ yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận giải quyết cùng vụ án thì quyền dân sự của người liên quan đương nhiên chấm dứt. Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành quy định trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện vụ án khác.
Điều này phải được phân biệt với trường hợp Tòa án đã thụ lý, xét xử yêu cầu độc lập về nội dung và tuyên không chấp nhận yêu cầu. Một bên là vấn đề yêu cầu có được giải quyết trong cùng vụ án hay không; một bên là kết quả xét xử về chính nội dung quyền mà người đó yêu cầu. Hậu quả pháp lý của hai tình huống không giống nhau.
Do đó, khi nhận được văn bản của Tòa án liên quan đến yêu cầu độc lập, phải đọc kỹ lý do và tính chất xử lý. Không nên chỉ thấy cụm từ “không chấp nhận” rồi hiểu rằng mình đã thua về nội dung quyền lợi.
Làm sao biết mình có cần yêu cầu độc lập hay không?
Một cách kiểm tra tương đối hiệu quả là hình dung trước phần quyết định của bản án mà mình mong muốn.
Nếu mong muốn của bạn chỉ là: “Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì yêu cầu đó ảnh hưởng đến quyền lợi của tôi”, thì cần xem xét bạn đang tham gia tố tụng với bên nào và có thực sự cần một yêu cầu độc lập hay không.
Nhưng nếu mong muốn là: “Tòa án công nhận 200 m² đất này thuộc quyền sử dụng của tôi”; “buộc A trả cho tôi 500 triệu đồng”; “buộc B giao lại tài sản cho tôi”; “tuyên hợp đồng liên quan đến quyền của tôi vô hiệu”; hoặc một phán quyết riêng khác trực tiếp xác lập quyền, nghĩa vụ cho mình, thì phải kiểm tra ngay điều kiện đưa ra yêu cầu độc lập.
Sau đó tiếp tục hỏi ba câu: yêu cầu của mình có liên quan đến vụ án đang được giải quyết không; giải quyết ngay trong vụ án này có giúp giải quyết tranh chấp chính xác và nhanh hơn không; và đã qua thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hay chưa? Đây chính là những vấn đề cốt lõi được Điều 201 đặt ra.
Luật sư cần làm gì khi thân chủ được đưa vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan?
Việc đầu tiên không phải là lập ngay đơn yêu cầu độc lập. Luật sư cần nghiên cứu đơn khởi kiện, yêu cầu phản tố nếu có, các yêu cầu độc lập đã được đưa ra, tài liệu chứng cứ và phạm vi Tòa án đang giải quyết. Sau đó mới xác định quyền lợi của thân chủ đang nằm ở đâu trong cấu trúc tranh chấp.
Tiếp theo cần xác định mục tiêu cuối cùng. Nếu chỉ cần bác một yêu cầu đang ảnh hưởng đến quyền của thân chủ thì tập trung xây dựng ý kiến và chứng cứ bảo vệ. Nếu cần Tòa án đưa ra một phán quyết riêng để công nhận quyền, buộc giao tài sản, thanh toán tiền hoặc giải quyết một quan hệ pháp lý khác thì phải kiểm tra điều kiện tại Điều 201 và thực hiện yêu cầu độc lập kịp thời.
Đặc biệt, luật sư cần kiểm tra thời điểm tố tụng ngay khi tiếp nhận hồ sơ. Một yêu cầu về nội dung có thể có căn cứ nhưng nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để quá thời điểm luật cho phép đưa ra yêu cầu độc lập trong vụ án thì chiến lược tố tụng sẽ thay đổi đáng kể. Trong tố tụng dân sự, bảo vệ đúng quyền nhưng không thực hiện đúng thủ tục và đúng thời điểm có thể khiến quyền đó không được xem xét trong chính vụ án đang diễn ra.
Đừng chỉ hỏi “Tôi có quyền lợi trong vụ án không?”, hãy hỏi “Tôi muốn Tòa tuyên điều gì cho mình?”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đương nhiên phải có yêu cầu độc lập. Họ có thể tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn tùy theo mối quan hệ với vụ án. Nhưng nếu muốn Tòa án giải quyết một quyền lợi riêng của mình mà các yêu cầu hiện có chưa bao quát thì phải đặc biệt xem xét việc đưa ra yêu cầu độc lập.
Điểm quan trọng nhất là phân biệt giữa “trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi” và “đưa ra một yêu cầu để Tòa án ra phán quyết cho mình”. Nói với Tòa rằng “tài sản này có phần của tôi” chưa chắc đồng nghĩa với việc đã có một yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận phần tài sản đó. Tương tự, việc nội dung đã được ghi trong bản tự khai hoặc biên bản hòa giải cũng không có nghĩa thủ tục yêu cầu độc lập đã được thực hiện đầy đủ.
Vì vậy, ngay khi được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hãy kiểm tra bốn vấn đề: mình muốn Tòa án tuyên điều gì; yêu cầu đó đã nằm trong phạm vi vụ án hay chưa; có đáp ứng Điều 201 hay không; và còn thời hạn tố tụng để đưa ra yêu cầu độc lập hay không. Xác định đúng ngay từ đầu có thể giúp quyền lợi được giải quyết toàn diện trong cùng một vụ án, thay vì đến khi bản án được tuyên mới phát hiện vấn đề quan trọng nhất của mình chưa từng trở thành một yêu cầu để Tòa án xem xét.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
