Trong một vụ án hình sự, điều người bị hại quan tâm không chỉ là người phạm tội sẽ bị xử lý bao nhiêu năm tù. Sau một vụ cố ý gây thương tích, tai nạn do hành vi phạm tội, hủy hoại tài sản, lừa đảo, cướp tài sản hoặc một hành vi phạm tội khác, hậu quả thực tế có thể là tiền viện phí, thu nhập bị mất, tài sản bị hư hỏng, chi phí chăm sóc, chi phí mai táng, nghĩa vụ cấp dưỡng và những tổn thất tinh thần kéo dài.
Một câu hỏi vì thế thường xuyên được đặt ra: “Đang giải quyết vụ án hình sự thì tôi có được yêu cầu bồi thường luôn không, hay phải khởi kiện một vụ án dân sự khác?”.
Câu trả lời là pháp luật cho phép giải quyết vấn đề dân sự ngay trong vụ án hình sự. Bị hại có quyền đưa ra yêu cầu và cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, được quyền yêu cầu không có nghĩa cứ đưa ra một con số là Tòa án sẽ buộc bị cáo thanh toán đúng con số đó. Muốn yêu cầu bồi thường có cơ sở, cần xác định đúng khoản thiệt hại, đúng người có trách nhiệm, đúng căn cứ tính toán và quan trọng nhất là phải chứng minh được thiệt hại thực tế.
Đây chính là lý do trong nhiều vụ án, cùng bị thương tương đương nhau nhưng yêu cầu bồi thường và số tiền được chấp nhận có thể rất khác nhau.
Vụ án hình sự có giải quyết luôn yêu cầu bồi thường hay không?
Nguyên tắc này được quy định trực tiếp tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành – Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Theo đó, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết cùng với vụ án hình sự. Trường hợp phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn nhưng chưa có điều kiện chứng minh và việc tách phần dân sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể được tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Ví dụ, A dùng hung khí đánh B gây thương tích. Trong quá trình điều tra, B đã điều trị xong, có đầy đủ bệnh án, hóa đơn viện phí, tài liệu chứng minh thu nhập bị mất và yêu cầu A bồi thường. Khi xét xử A về tội cố ý gây thương tích, Tòa án có thể đồng thời xem xét trách nhiệm bồi thường cho B. B không nhất thiết phải đợi vụ án hình sự kết thúc rồi mới khởi kiện một vụ án dân sự riêng.
Tuy nhiên, nếu hậu quả dân sự quá phức tạp, chưa có điều kiện chứng minh đầy đủ mà việc chưa giải quyết ngay không ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự thì phần dân sự có thể được tách ra. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP cũng hướng dẫn theo hướng vấn đề bồi thường trong vụ án hình sự về nguyên tắc được giải quyết cùng vụ án; nếu chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách để giải quyết theo tố tụng dân sự.
Điều này rất quan trọng: “tách phần dân sự” không có nghĩa người bị hại mất quyền yêu cầu bồi thường. Vấn đề chỉ là yêu cầu đó sẽ được giải quyết trong chính vụ án hình sự hay bằng một vụ án dân sự khác.
Ai có quyền yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự?
Trước hết là bị hại. Bộ luật Tố tụng hình sự xác định bị hại có thể là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Bị hại có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá.
Ngoài bị hại, tùy vụ án còn có thể xuất hiện nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ví dụ, một người bị sát hại thì một số khoản bồi thường liên quan đến tính mạng, mai táng, cấp dưỡng và tổn thất tinh thần sẽ gắn với quyền của những người mà pháp luật xác định được hưởng. Nếu tài sản của một doanh nghiệp bị hủy hoại do hành vi phạm tội thì pháp nhân bị thiệt hại cũng có quyền yêu cầu giải quyết hậu quả về tài sản.
Vì vậy, trước khi viết một đơn yêu cầu bồi thường, cần xác định người yêu cầu đang tham gia tố tụng với tư cách gì và khoản tiền đang yêu cầu bồi thường thuộc quyền của ai. Không phải cứ là người thân của bị hại thì tất cả mọi khoản bồi thường đều có thể yêu cầu đứng tên mình.
Yêu cầu bồi thường bao nhiêu không thể chỉ dựa vào cảm xúc
Một sai lầm rất thường gặp là xác định tiền bồi thường bằng cảm tính: “Tôi bị đánh rất nặng nên yêu cầu 300 triệu đồng”, “gia đình tôi quá đau khổ nên phải bồi thường 500 triệu đồng”, hoặc “bị cáo có điều kiện nên tôi yêu cầu mức cao”.
Pháp luật dân sự không xác định thiệt hại theo cách đó. Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 – Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại xác định người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP giải thích “thiệt hại thực tế” là thiệt hại đã xảy ra và được tính thành tiền tại thời điểm giải quyết bồi thường; thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Nếu sau lần giải quyết đầu tiên tiếp tục phát sinh thiệt hại mới thì phần phát sinh sau có thể tiếp tục được giải quyết nếu người bị thiệt hại có yêu cầu.
Vì vậy, một yêu cầu bồi thường tốt không bắt đầu bằng câu hỏi “đòi bao nhiêu cho đáng?” mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “thực tế đã thiệt hại những khoản nào và chứng minh từng khoản bằng tài liệu gì?”.
Bị thương thì có thể yêu cầu bồi thường những khoản nào?
Đây là nhóm yêu cầu phổ biến nhất trong các vụ cố ý gây thương tích, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và nhiều tội phạm khác xâm phạm sức khỏe.
Theo Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 – Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, thiệt hại có thể bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị; các thiệt hại khác theo luật và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần.
Giả sử B bị đánh phải nhập viện 10 ngày. Khi yêu cầu bồi thường, B không nên chỉ ghi chung “chi phí chữa bệnh 30 triệu đồng”. Cần bóc tách: tiền khám, điều trị, thuốc, xét nghiệm, chụp chiếu, phẫu thuật nếu có; các khoản phục hồi chức năng; thu nhập B bị mất trong thời gian không thể làm việc; chi phí và thu nhập bị mất của người phải nghỉ việc để chăm sóc B; cùng những khoản hợp lý khác có căn cứ.
Bên cạnh thiệt hại vật chất là khoản bù đắp tổn thất tinh thần. Đây là khoản rất dễ bị hiểu thành “tiền đau đớn muốn yêu cầu bao nhiêu cũng được”. Thực tế, các bên được quyền thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Điều 590 quy định giới hạn tối đa theo mức lương cơ sở. Vì vậy, cần phân biệt giữa quyền đưa ra mức đề nghị thương lượng và mức tối đa mà Tòa án có thể xem xét khi các bên không đạt được thỏa thuận.
Viện phí không phải cứ có hóa đơn là Tòa án chắc chắn chấp nhận toàn bộ
Hóa đơn, chứng từ y tế là chứng cứ rất quan trọng nhưng vẫn phải đặt trong mối liên hệ với thương tích và việc điều trị thực tế. Khoản chi phải có tính hợp lý đối với việc cứu chữa, bồi dưỡng và phục hồi sức khỏe.
Ví dụ, bị hại điều trị tại bệnh viện theo chỉ định của bác sĩ, mua thuốc theo đơn, thực hiện xét nghiệm, phẫu thuật, chụp chiếu phục vụ trực tiếp cho thương tích thì đây là những khoản có cơ sở rõ ràng. Ngược lại, nếu yêu cầu một khoản tiền lớn cho thực phẩm chức năng, thuốc không liên quan đến thương tích hoặc những dịch vụ không chứng minh được sự cần thiết thì khả năng được chấp nhận có thể khác.
Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP đã hướng dẫn chi tiết hơn về việc xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Vì vậy, người bị hại nên lưu lại toàn bộ hồ sơ bệnh án, đơn thuốc, hóa đơn, chứng từ thanh toán, giấy ra viện, chỉ định tái khám và các tài liệu liên quan ngay từ đầu. Đừng đợi đến khi vụ án chuẩn bị xét xử mới quay lại bệnh viện tìm chứng từ.
Thu nhập bị mất phải chứng minh như thế nào?
Đây là khoản thường bị yêu cầu rất cao nhưng chứng cứ lại rất yếu.
Nếu bị hại có hợp đồng lao động, bảng lương, sao kê ngân hàng, xác nhận của người sử dụng lao động hoặc tài liệu chứng minh thu nhập ổn định thì việc xác định tương đối thuận lợi. Ví dụ, trước khi bị thương B có mức lương 15 triệu đồng/tháng và phải nghỉ điều trị một tháng không hưởng lương thì có thể sử dụng các tài liệu này để chứng minh khoản thu nhập thực tế bị mất.
Khó hơn là trường hợp lao động tự do như thợ xây, lái xe, bán hàng, kinh doanh nhỏ. Không có bảng lương không đồng nghĩa chắc chắn không được yêu cầu. Điều 590 dự liệu trường hợp thu nhập không ổn định và không thể xác định được thì có thể áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. Tuy nhiên, người yêu cầu vẫn nên cung cấp tối đa chứng cứ có thể có như lịch sử giao dịch, hợp đồng công việc, xác nhận, dữ liệu kinh doanh hoặc tài liệu khác phản ánh nghề nghiệp và mức thu nhập.
Không nên chỉ viết: “Tôi làm tự do, mỗi ngày thu nhập 2 triệu đồng, nghỉ 30 ngày nên yêu cầu 60 triệu đồng” nhưng không có bất cứ căn cứ nào giải thích vì sao mức thu nhập lại là 2 triệu đồng/ngày.
Người chăm sóc bị hại cũng có thể phát sinh khoản thiệt hại được bồi thường
Khi người bị hại phải nằm viện, phẫu thuật hoặc không thể tự chăm sóc, người thân có thể phải nghỉ việc để chăm sóc. Đây là khoản thiệt hại thường bị bỏ sót.
Pháp luật cho phép xem xét chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc còn có thể tiếp tục được đặt ra.
Tuy nhiên, cũng giống thu nhập của bị hại, thu nhập bị mất của người chăm sóc cần được chứng minh. Cần xác định ai trực tiếp chăm sóc, chăm sóc trong thời gian nào, có thực sự phải nghỉ việc hay không và thu nhập bị mất là bao nhiêu. Không nên mặc nhiên tính thu nhập của ba, bốn thành viên gia đình cùng nghỉ việc nếu tình trạng thương tích không cho thấy cần nhiều người cùng chăm sóc.
Bị hại tử vong thì gia đình được yêu cầu những khoản nào?
Khi tính mạng bị xâm phạm, phạm vi thiệt hại không chỉ là tiền mai táng. Điều 591 Bộ luật Dân sự quy định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm thiệt hại về sức khỏe phát sinh trước khi người bị hại chết, chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà người chết có nghĩa vụ cấp dưỡng, các thiệt hại khác theo luật và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những chủ thể được pháp luật xác định.
Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn khá cụ thể về chi phí mai táng. Những khoản như quan tài, hỏa táng hoặc chôn cất, vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, xe tang và các khoản phục vụ trực tiếp việc mai táng phù hợp phong tục có thể được xem xét. Trong khi đó, các khoản cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ hoặc bốc mộ không thuộc nhóm chi phí mai táng được chấp nhận theo hướng dẫn này.
Đây là điểm gia đình bị hại cần lưu ý khi lập bảng yêu cầu. Trong hoàn cảnh tang gia, nhiều khoản tiền thực tế được chi ra nhưng không phải tất cả đều thuộc phạm vi thiệt hại mà pháp luật buộc người gây thiệt hại phải bồi thường.
Tài sản bị mất, hủy hoại hoặc hư hỏng thì yêu cầu thế nào?
Không phải vụ án hình sự nào cũng liên quan đến sức khỏe hoặc tính mạng. Trong các vụ hủy hoại tài sản, trộm cắp, cướp, lừa đảo hoặc các tội phạm khác xâm phạm tài sản, vấn đề dân sự có thể tập trung vào việc trả lại tài sản, hoàn trả tiền hoặc bồi thường giá trị tài sản bị mất, hư hỏng.
Điều 589 Bộ luật Dân sự xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc hư hỏng; lợi ích gắn với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc giảm sút; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại cùng thiệt hại khác do luật quy định.
Ví dụ, A cố ý đập phá chiếc ô tô của B. B không nên chỉ yêu cầu “bồi thường chiếc xe 500 triệu đồng” nếu xe chỉ bị hư hỏng một số bộ phận. Cần xác định mức độ hư hỏng, chi phí sửa chữa, giá trị tài sản và những thiệt hại liên quan có căn cứ. Nếu chiếc xe là phương tiện kinh doanh và việc hư hỏng làm mất lợi ích từ khai thác tài sản thì khoản này cũng phải được chứng minh cụ thể.
Tỷ lệ thương tích 10%, 20% hay 40% không đồng nghĩa số tiền bồi thường được tính theo tỷ lệ đó
Đây là một nhầm lẫn rất phổ biến. Có người cho rằng tỷ lệ tổn thương cơ thể 20% thì phải lấy một mức tiền nào đó nhân 20%, hoặc tỷ lệ càng cao thì cứ tự động quy đổi thành một số tiền bồi thường cố định.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết trách nhiệm hình sự trong nhiều trường hợp và cũng phản ánh mức độ hậu quả về sức khỏe. Nhưng khoản bồi thường dân sự không được tính đơn giản bằng công thức “1% thương tích bằng X triệu đồng”.
Bồi thường sức khỏe phải căn cứ các nhóm thiệt hại tại Điều 590 và hướng dẫn của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP. Hai người cùng bị tổn thương cơ thể 15% nhưng một người phải phẫu thuật, điều trị dài ngày, mất thu nhập nhiều tháng trong khi người còn lại có chi phí điều trị và thời gian nghỉ việc thấp hơn thì tổng thiệt hại thực tế có thể khác nhau đáng kể.
Bị cáo đã bồi thường một phần thì có được yêu cầu phần còn thiếu không?
Có thể. Nếu tổng thiệt hại có căn cứ là 100 triệu đồng nhưng bị cáo mới bồi thường 30 triệu đồng thì việc đã nhận 30 triệu đồng không tự động làm mất quyền yêu cầu đối với phần còn lại, trừ trường hợp các bên đã có thỏa thuận hợp pháp khác về việc giải quyết toàn bộ trách nhiệm bồi thường.
Điều quan trọng là nội dung giấy giao nhận tiền. Nếu văn bản chỉ ghi “nhận 30 triệu đồng để khắc phục một phần hậu quả” thì ý nghĩa khác với văn bản ghi rõ các bên đã thỏa thuận tổng mức bồi thường, người bị hại đã nhận đủ và không còn yêu cầu dân sự. Khi ký biên bản nhận tiền, bị hại phải đọc kỹ nội dung thay vì chỉ quan tâm số tiền thực tế đang được giao.
Ở chiều ngược lại, bị cáo hoặc gia đình bị cáo khi bồi thường cũng nên lập chứng từ rõ ràng: ngày giao, số tiền, người giao, người nhận, khoản tiền nhằm bồi thường nội dung nào và tổng số đã khắc phục. Việc này vừa tránh tranh chấp về sau vừa là tài liệu để cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá việc khắc phục hậu quả.
Bị hại yêu cầu quá cao thì Tòa có buộc bị cáo trả toàn bộ không?
Không. Quyền yêu cầu không đồng nghĩa với quyền tự quyết định số tiền mà bên kia bắt buộc phải trả.
Giả sử bị hại yêu cầu 300 triệu đồng nhưng chứng cứ chỉ chứng minh được một số khoản hợp lý, còn nhiều khoản không có tài liệu hoặc vượt quá phạm vi pháp luật quy định. Tòa án sẽ xem xét từng khoản dựa trên căn cứ pháp luật, chứng cứ và kết quả tranh tụng chứ không phải cứ bị hại yêu cầu bao nhiêu thì tuyên bấy nhiêu.
Ngược lại, phía bị cáo cũng không thể chỉ nói “gia đình tôi khó khăn nên chỉ đồng ý bồi thường 20 triệu đồng” để phủ nhận thiệt hại thực tế. Khả năng kinh tế và hoàn cảnh của người gây thiệt hại có thể liên quan đến những vấn đề pháp lý nhất định, nhưng trước hết vẫn phải xác định thiệt hại thực tế và trách nhiệm bồi thường theo quy định.
Bồi thường đầy đủ thì có được miễn trách nhiệm hình sự không?
Không nên đánh đồng trách nhiệm dân sự với trách nhiệm hình sự. Việc bồi thường, khắc phục hậu quả có thể có ý nghĩa rất quan trọng khi giải quyết vụ án, đặc biệt trong việc xem xét các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự và hình phạt. Nhưng việc đã bồi thường đầy đủ không đồng nghĩa trong mọi trường hợp vụ án sẽ đương nhiên bị đình chỉ hoặc người phạm tội không còn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Có những tội danh mà việc khởi tố vụ án phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; cũng có rất nhiều tội danh không phụ thuộc vào yêu cầu đó. Vì vậy, không thể áp dụng một công thức chung rằng “bồi thường xong, bị hại viết đơn bãi nại thì vụ án chấm dứt”.
Khi thương lượng bồi thường, hai bên nên tách rõ ba vấn đề: số tiền khắc phục hậu quả; quan điểm của bị hại về trách nhiệm hình sự; và hậu quả pháp lý thực tế của việc bị hại xin giảm nhẹ hoặc rút yêu cầu trong trường hợp cụ thể. Một lá đơn xin giảm nhẹ không phải lúc nào cũng có giá trị làm chấm dứt vụ án.
Muốn yêu cầu bồi thường, bị hại cần chuẩn bị chứng cứ gì?
Đối với thiệt hại sức khỏe, nên giữ đầy đủ hồ sơ bệnh án, giấy ra viện, kết quả xét nghiệm, phim chụp, đơn thuốc, hóa đơn, chứng từ thanh toán, giấy tái khám và tài liệu liên quan đến phục hồi chức năng. Nếu yêu cầu thu nhập bị mất thì chuẩn bị hợp đồng lao động, bảng lương, sao kê, xác nhận của đơn vị sử dụng lao động hoặc tài liệu chứng minh nghề nghiệp, thu nhập.
Nếu có người chăm sóc, cần xác định rõ người chăm sóc, thời gian và thu nhập bị mất. Nếu tài sản bị hư hỏng thì giữ hình ảnh hiện trạng, hóa đơn mua tài sản, chứng từ sửa chữa, kết luận định giá và các tài liệu chứng minh lợi ích khai thác bị mất nếu có.
Quan trọng hơn, nên lập một bảng yêu cầu bồi thường theo từng khoản: tên khoản thiệt hại – số tiền yêu cầu – cách tính – tài liệu chứng minh. Cách làm này giúp yêu cầu rõ ràng hơn rất nhiều so với việc chỉ nộp một đơn ghi “tổng cộng yêu cầu bồi thường 200 triệu đồng”.
Khi nào nên nộp yêu cầu bồi thường?
Không cần chờ đến phiên tòa mới đưa ra yêu cầu. Ngay từ giai đoạn điều tra, bị hại có thể trình bày yêu cầu, cung cấp chứng cứ về thiệt hại và tiếp tục bổ sung tài liệu khi phát sinh.
Việc đưa yêu cầu sớm có nhiều lợi ích. Cơ quan tiến hành tố tụng có điều kiện xác định vấn đề dân sự, lấy lời khai những người liên quan, thu thập tài liệu và làm rõ trách nhiệm bồi thường. Nếu đợi đến phiên tòa mới lần đầu đưa ra một khoản thiệt hại lớn nhưng không có chứng cứ, việc xem xét sẽ khó khăn hơn và trong trường hợp chưa có điều kiện chứng minh, vấn đề dân sự có thể phải được xử lý theo hướng khác.
Tuy nhiên, nộp yêu cầu sớm không có nghĩa phải “chốt” mọi thiệt hại ngay ngày đầu. Nếu quá trình điều trị vẫn tiếp tục, bị hại có thể cập nhật chi phí và bổ sung chứng cứ. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP cũng dự liệu trường hợp thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu thì có thể được xác định tại lần giải quyết tiếp theo nếu người bị thiệt hại có yêu cầu.
Luật sư cần làm gì đối với yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự?
Nếu bảo vệ bị hại, luật sư không nên chỉ đề nghị “bồi thường thỏa đáng”. Cần lượng hóa từng khoản, kiểm tra chứng cứ, loại bỏ những khoản không có căn cứ, bổ sung tài liệu còn thiếu và trình bày cách tính rõ ràng. Một yêu cầu 100 triệu đồng được chia thành từng khoản có căn cứ thường có sức thuyết phục hơn nhiều so với yêu cầu 300 triệu đồng nhưng không giải thích được cấu thành từ đâu.
Nếu bào chữa cho bị cáo, luật sư cũng không nên phản đối toàn bộ yêu cầu chỉ vì cho rằng “mức tiền quá cao”. Cần phân tích từng khoản: khoản nào có căn cứ thì ghi nhận; khoản nào chưa có chứng từ thì yêu cầu chứng minh; khoản nào không thuộc phạm vi thiệt hại được bồi thường thì chỉ rõ căn cứ; khoản nào đã được thanh toán thì đối trừ. Đồng thời, nếu bị cáo thực sự có trách nhiệm, việc chủ động khắc phục hậu quả và thương lượng hợp lý còn có ý nghĩa trong quá trình giải quyết trách nhiệm hình sự.
Đối với cả hai phía, cách tiếp cận hiệu quả nhất vẫn là: xác định đúng thiệt hại – chứng minh đúng thiệt hại – tính đúng số tiền – yêu cầu đúng chủ thể chịu trách nhiệm.
Yêu cầu bồi thường phải đi cùng chứng cứ
Trong vụ án hình sự, người bị thiệt hại không chỉ có quyền yêu cầu xử lý người phạm tội mà còn có quyền yêu cầu giải quyết hậu quả dân sự do hành vi phạm tội gây ra. Theo nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng hình sự, vấn đề dân sự được giải quyết cùng vụ án hình sự; chỉ khi chưa có điều kiện chứng minh và việc tách không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì mới có thể tách ra giải quyết theo thủ tục dân sự.
Tuy nhiên, yêu cầu bồi thường không phải là việc đưa ra một con số dựa trên mức độ bức xúc. Với thiệt hại sức khỏe phải xác định viện phí, chi phí phục hồi, thu nhập bị mất, người chăm sóc và tổn thất tinh thần; với tính mạng phải xem xét thêm chi phí mai táng, cấp dưỡng và các khoản luật định; với tài sản phải xác định giá trị mất, hư hỏng và những lợi ích bị ảnh hưởng.
Điểm quan trọng nhất có thể ghi nhớ là: đừng chỉ hỏi “tôi có thể yêu cầu bao nhiêu?”, hãy hỏi “tôi có thể chứng minh được bao nhiêu?”. Trong một yêu cầu bồi thường, con số càng lớn càng không có ý nghĩa nếu không chứng minh được cơ sở của nó.
Thông tin liên hệ
Văn Phòng Luật Công Tâm
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline: 0972 810 901 – 0969 545 660.
Email: [email protected].
