Nhiều người cho rằng chỉ cần là con ruột thì khi cha mẹ qua đời đương nhiên sẽ được chia di sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất. Chính suy nghĩ này khiến không ít gia đình phát sinh tranh chấp kéo dài, anh em kiện tụng, thậm chí nhiều người mất hoàn toàn quyền hưởng thừa kế vì không hiểu đúng quy định pháp luật.
Thực tế, Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định mọi người con đều được hưởng thừa kế trong mọi trường hợp. Có những trường hợp dù là con ruột, con duy nhất hay người trực tiếp sinh sống cùng cha mẹ, vẫn không được nhận bất kỳ phần đất nào.
Từ suy nghĩ “đương nhiên được hưởng” → có thể mất hoàn toàn quyền thừa kế nếu không hiểu luật.
Cha mẹ lập di chúc hợp pháp truất quyền hưởng di sản của con
Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người sở hữu.
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền:
- Chỉ định người thừa kế;
- Truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân chia di sản theo ý chí của mình.
Điều này đồng nghĩa với việc:
Cha mẹ hoàn toàn có quyền để lại toàn bộ quyền sử dụng đất cho:
- Một người con;
- Cháu nội, cháu ngoại;
- Người thân khác;
- Người ngoài gia đình;
- Tổ chức từ thiện…
và không để lại bất kỳ phần tài sản nào cho một hoặc nhiều người con khác, nếu di chúc hợp pháp.
Tuy nhiên, để việc truất quyền có hiệu lực thì di chúc phải đáp ứng đầy đủ điều kiện hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt;
- Không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;
- Nội dung không trái pháp luật;
- Hình thức phù hợp quy định.
Lưu ý quan trọng: Không phải mọi trường hợp bị truất quyền đều không được hưởng di sản
Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây vẫn được hưởng một phần di sản dù nội dung di chúc không cho hưởng, nếu họ không từ chối nhận di sản hoặc không thuộc trường hợp bị tước quyền hưởng di sản:
- Con chưa thành niên;
- Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
Đây là nhóm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Con thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự
Không chỉ bảo vệ quyền sở hữu tài sản, pháp luật còn đề cao đạo đức gia đình.
Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người con sẽ không có quyền hưởng di sản nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của cha mẹ
Người bị kết án vì hành vi:
- Giết cha mẹ;
- Cố ý gây thương tích;
- Hành hạ;
- Ngược đãi nghiêm trọng cha mẹ
sẽ không được hưởng di sản.
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ
Người con có điều kiện nhưng:
- Bỏ mặc cha mẹ già yếu;
- Không chăm sóc khi cha mẹ bệnh tật;
- Trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng
có thể bị xác định là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng và mất quyền hưởng di sản.
Cố ý giết người thừa kế khác để chiếm đoạt di sản
Nếu người con:
- Giết anh chị em;
- Giết người cùng hàng thừa kế
nhằm được hưởng nhiều tài sản hơn thì sẽ không được hưởng di sản của cha mẹ.
Làm giả hoặc hủy di chúc
Các hành vi:
- Giả chữ ký;
- Giả mạo di chúc;
- Cưỡng ép cha mẹ lập di chúc;
- Hủy di chúc;
- Che giấu di chúc
đều có thể khiến người thực hiện mất toàn bộ quyền hưởng di sản.
Người con tự nguyện từ chối nhận thừa kế
Không phải mọi trường hợp không được hưởng thừa kế đều xuất phát từ việc bị truất quyền.
Theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản.
Tuy nhiên cần đáp ứng các điều kiện:
- Việc từ chối phải được lập thành văn bản;
- Thực hiện trước thời điểm phân chia di sản;
- Không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người khác.
Sau khi việc từ chối được thực hiện hợp pháp, người đó không còn quyền yêu cầu chia phần di sản đã từ chối.
Không phải cứ không qua lại với cha mẹ là mất quyền thừa kế
Đây là hiểu nhầm rất phổ biến.
Nhiều người cho rằng:
- Không chăm sóc cha mẹ;
- Không liên lạc nhiều năm;
- Mâu thuẫn gia đình;
- Cắt đứt quan hệ với cha mẹ
thì sẽ tự động mất quyền hưởng di sản.
Quan điểm này không đúng. Việc không qua lại với cha mẹ không phải là căn cứ pháp luật để tước quyền hưởng di sản.
Người con chỉ mất quyền khi thuộc các trường hợp được pháp luật quy định, như:
- Thuộc Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015;
- Bị truất quyền bằng di chúc hợp pháp;
- Hoặc tự nguyện từ chối nhận di sản.
Do đó, trong mỗi vụ việc cần xem xét đầy đủ:
- Hoàn cảnh gia đình;
- Chứng cứ;
- Nội dung di chúc;
- Hành vi của từng người thừa kế
để xác định chính xác quyền hưởng di sản.
Khi tranh chấp thừa kế đất đai, Luật sư có thể hỗ trợ những gì?
Tranh chấp thừa kế đất thường không chỉ là tranh chấp về giấy tờ mà còn liên quan đến:
- Hiệu lực di chúc;
- Xác định hàng thừa kế;
- Công sức quản lý, bảo quản di sản;
- Xác định tài sản chung, tài sản riêng;
- Chứng minh người không có quyền hưởng di sản;
- Thu thập chứng cứ về việc giả mạo di chúc hoặc che giấu di sản.
Đối với các vụ việc phức tạp, Luật sư sẽ:
Đánh giá hiệu lực của di chúc.
Xác định đúng hàng thừa kế theo quy định pháp luật.
Thu thập chứng cứ chứng minh hoặc bác bỏ căn cứ tước quyền hưởng di sản.
Tư vấn phương án hòa giải hoặc khởi kiện phù hợp.
Đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Kết luận
Không phải mọi người con đều đương nhiên được hưởng quyền sử dụng đất của cha mẹ sau khi qua đời. Pháp luật chỉ bảo vệ quyền thừa kế của những người đủ điều kiện theo quy định và đồng thời tôn trọng ý chí hợp pháp của người để lại di sản.
Việc hiểu đúng các trường hợp không được hưởng thừa kế sẽ giúp hạn chế tranh chấp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình và tránh những vụ kiện kéo dài, tốn kém.
Nếu gia đình bạn đang có tranh chấp về thừa kế đất đai, có dấu hiệu làm giả di chúc, truất quyền thừa kế hoặc phát sinh mâu thuẫn giữa các đồng thừa kế, việc tham khảo ý kiến luật sư ngay từ đầu sẽ giúp xác định đúng căn cứ pháp lý và lựa chọn phương án giải quyết hiệu quả.
