“Chúng em yêu nhau thật lòng, không ai ép buộc ai thì có phạm tội không?”, “Bạn gái 15 tuổi tự nguyện quan hệ thì bạn trai 20 tuổi có bị đi tù không?”, “Hai người đều 15 tuổi thì có bị xử lý hình sự không?”, “Gia đình biết chuyện nhưng không tố cáo nữa thì Công an có xử lý không?”… Đây là những câu hỏi rất dễ gây nhầm lẫn khi liên quan đến quan hệ tình dục với người dưới 16 tuổi.
Nhiều người cho rằng chỉ khi có cưỡng ép, dùng vũ lực hoặc đe dọa thì mới phạm tội. Vì vậy, nếu hai người đang yêu nhau và người dưới 16 tuổi hoàn toàn đồng ý thì họ cho rằng đó là chuyện tình cảm cá nhân. Cách hiểu này không đúng trong mọi trường hợp.
Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, pháp luật đặt ra cơ chế bảo vệ đặc biệt đối với người chưa đủ 16 tuổi. Đáng chú ý, Điều 145 quy định trường hợp người từ đủ 18 tuổi trở lên giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc Điều 142 và Điều 144, vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù. Nói cách khác, đối với trường hợp thuộc Điều 145, việc người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi “đồng ý” không đương nhiên làm hành vi trở thành hợp pháp.
Tuy nhiên, cũng không thể nói một cách máy móc rằng “cứ quan hệ với người dưới 16 tuổi là phạm Điều 145”. Phải xác định chính xác tuổi của cả hai người, bản chất của sự “tự nguyện”, hành vi thực tế đã xảy ra và có hay không dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ hoặc tình trạng lệ thuộc, quẫn bách.
NGƯỜI 18 TUỔI TRỞ LÊN QUAN HỆ TỰ NGUYỆN VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI VẪN CÓ THỂ PHẠM TỘI
Điều 145 Bộ luật Hình sự quy định Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo khoản 1 Điều này, người phạm tội phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên; người còn lại là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Nếu có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 về hiếp dâm người dưới 16 tuổi hoặc Điều 144 về cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, người thực hiện có thể bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ví dụ, A 20 tuổi và B 15 tuổi yêu nhau. B chủ động đồng ý quan hệ, không có việc A đánh đập, đe dọa hoặc ép buộc. Nếu hành vi thực tế thỏa mãn những dấu hiệu của Điều 145 thì việc B nói rằng “cháu tự nguyện” không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự của A. Đây chính là khác biệt mà rất nhiều người bỏ qua: Điều 145 không đòi hỏi phải chứng minh người phạm tội đã cưỡng ép nạn nhân như cấu thành của một số tội phạm tình dục khác. Thực tiễn xét xử cũng đã có những vụ án áp dụng Điều 145 đối với người trưởng thành quan hệ với người trong độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi.
Do đó, câu nói “hai đứa yêu nhau”, “cháu đồng ý”, “không ai ép cháu cả” không phải là căn cứ đủ để kết luận người từ đủ 18 tuổi không phạm tội. Khi người còn lại chưa đủ 16 tuổi, pháp luật hình sự đặt ra giới hạn bảo vệ riêng. Đây là vấn đề thuộc chính sách bảo vệ sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý và tình dục của người chưa thành niên, chứ không chỉ là câu chuyện người đó có nói “đồng ý” hay không.
NẾU NGƯỜI DƯỚI 13 TUỔI “TỰ NGUYỆN” THÌ SAO? ĐÂY LÀ RANH GIỚI PHẢI ĐẶC BIỆT LƯU Ý
Khi nói “người dưới 16 tuổi”, phải chia rõ dưới 13 tuổi và từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Không thể gom tất cả vào Điều 145. Điều 145 chỉ điều chỉnh trường hợp người bị tác động từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và người thực hiện hành vi từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối với trẻ dưới 13 tuổi, pháp luật hình sự bảo vệ ở mức độ nghiêm ngặt hơn. Điều 142 về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi có quy định riêng đối với hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi. Vì vậy, trong trường hợp này, không thể viện dẫn việc trẻ “đồng ý”, “đang yêu”, “chủ động” hoặc “không chống cự” để biến hành vi thành quan hệ tình dục hợp pháp. Bộ luật Hình sự hiện hành được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025.
Ví dụ, nếu một người trưởng thành cho rằng một trẻ 12 tuổi chủ động đồng ý quan hệ với mình nên mình không phạm tội, cách lập luận đó không phù hợp với cơ chế bảo vệ trẻ em của pháp luật hình sự. Độ tuổi của trẻ tại thời điểm hành vi xảy ra là dữ kiện có thể làm thay đổi hoàn toàn tội danh và khung hình phạt. Vì vậy, trong những vụ án xảy ra sát ngày sinh nhật thứ 13 hoặc thứ 16 của người bị hại, việc xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh và thời điểm từng lần hành vi xảy ra đặc biệt quan trọng.
Nói ngắn gọn: “dưới 16 tuổi” không phải một nhóm pháp lý duy nhất đối với các tội phạm tình dục. Mốc dưới 13 tuổi và mốc từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi có ý nghĩa rất khác nhau. Chỉ sai một tuổi, thậm chí trong một số vụ việc chỉ khác thời điểm xảy ra hành vi trước hay sau sinh nhật, hướng định tội có thể thay đổi đáng kể.
NẾU CẢ HAI ĐỀU DƯỚI 18 TUỔI VÀ TỰ NGUYỆN THÌ CÓ PHẠM ĐIỀU 145 KHÔNG?
Đây là điểm cần nói thật rõ để tránh cách hiểu “hễ một người dưới 16 tuổi thì người còn lại chắc chắn phạm Điều 145”.
Chủ thể của tội phạm tại khoản 1 Điều 145 phải là người đủ 18 tuổi trở lên. Vì vậy, nếu hai người đều chưa đủ 18 tuổi thì không thể chỉ dựa vào việc một người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi và hai bên có quan hệ tự nguyện để kết luận người kia phạm Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Điều 145. Đây là hệ quả trực tiếp từ điều kiện về độ tuổi của chủ thể được quy định ngay trong điều luật.
Ví dụ, một người 17 tuổi và một người 15 tuổi có quan hệ hoàn toàn tự nguyện. Nếu chỉ xét riêng Điều 145 thì người 17 tuổi chưa đáp ứng dấu hiệu “đủ 18 tuổi trở lên” của chủ thể tội phạm này. Tương tự, hai người cùng 15 tuổi tự nguyện quan hệ không thể máy móc áp dụng Điều 145 đối với một bên chỉ vì người còn lại chưa đủ 16 tuổi.
Nhưng điều đó không có nghĩa cứ người thực hiện chưa đủ 18 tuổi thì mọi hành vi tình dục đều không thể bị xử lý hình sự. Nếu thực tế có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ, ép buộc hoặc có các dấu hiệu của một tội phạm khác thì phải đánh giá theo chính điều luật tương ứng và đồng thời xem xét quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, trước khi kết luận, phải trả lời đồng thời hai câu hỏi: người thực hiện bao nhiêu tuổi và hành vi diễn ra trong hoàn cảnh nào?
“TỰ NGUYỆN” PHẢI LÀ TỰ NGUYỆN THỰC SỰ – KHÔNG PHẢI CỨ KHÔNG KÊU CỨU LÀ ĐỒNG Ý
Trong thực tế điều tra, câu hỏi khó không chỉ là nạn nhân có nói “em đồng ý” hay không. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét bản chất của tình huống. Có trường hợp người chưa thành niên không chống cự nhưng đang bị đe dọa; có trường hợp phụ thuộc vào người thực hiện về kinh tế, chăm sóc hoặc giáo dục; có trường hợp bị đặt vào tình trạng quẫn bách; cũng có trường hợp không thể tự vệ hoặc không thể biểu lộ ý chí.
Nếu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ hoặc sử dụng thủ đoạn khác để thực hiện hành vi tình dục với người dưới 16 tuổi, vấn đề có thể phải được xem xét theo Điều 142 – Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, chứ không đơn thuần là Điều 145. Trong khi đó, Điều 144 điều chỉnh hành vi dùng thủ đoạn khiến người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc hoặc đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
Ví dụ, một người nói rằng cô gái 15 tuổi “không phản đối”, nhưng tài liệu lại thể hiện người này đe dọa tung hình ảnh riêng tư nếu cô gái không quan hệ. Khi đó, không thể chỉ lấy việc nạn nhân không chống cự để kết luận quan hệ tự nguyện. Ngược lại, nếu hai người thực sự có quan hệ tình cảm, không có ép buộc và người dưới 16 tuổi tự nguyện, thì dữ kiện này rất quan trọng để phân biệt Điều 145 với những tội danh có dấu hiệu cưỡng ép, nhưng như đã phân tích, nó không tự động loại trừ Điều 145 khi người thực hiện đã đủ 18 tuổi.
Do đó, trong vụ án cụ thể, các tin nhắn trước và sau thời điểm xảy ra sự việc, lời khai của hai bên, dữ liệu điện tử, hoàn cảnh gặp nhau, mối quan hệ giữa các bên và những chứng cứ khác có thể rất quan trọng để xác định bản chất của hành vi. Tuy nhiên, không được hiểu rằng chỉ cần có vài tin nhắn tình cảm là chắc chắn chứng minh được mọi lần quan hệ đều tự nguyện; chứng cứ phải được đánh giá tổng thể.
HAI NGƯỜI YÊU NHAU, SAU ĐÓ NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI CÓ THAI THÌ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THẾ NÀO?
Việc có thai không làm cho quan hệ trước đó trở thành hợp pháp. Ngược lại, đối với Điều 145, “làm nạn nhân có thai” là một tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm d khoản 2. Khoản 1 Điều 145 quy định khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 như phạm tội hai lần trở lên, đối với hai người trở lên, có tính chất loạn luân, làm nạn nhân có thai, gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe ở mức luật định, hoặc đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh thì mức hình phạt được nâng lên từ 03 năm đến 10 năm tù. Khoản 3 quy định khung từ 07 năm đến 15 năm tù đối với một số trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như gây tổn hại sức khỏe ở mức luật định hoặc biết mình nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
Một điểm cũng thường bị bỏ qua là “phạm tội 02 lần trở lên”. Hai người có thể yêu nhau trong thời gian dài và quan hệ nhiều lần. Người thực hiện cho rằng vì tất cả các lần đều xuất phát từ tình cảm và tự nguyện nên mức độ pháp lý không thay đổi. Nhưng nếu các hành vi đó thỏa mãn cấu thành Điều 145, việc thực hiện từ hai lần trở lên lại là tình tiết được điều luật quy định tại khung nặng hơn.
Vì vậy, khi vụ việc đã xảy ra, không thể chỉ hỏi “hai bên có yêu nhau không?”. Cần xác định số lần, thời điểm từng lần, tuổi chính xác của hai bên tại từng thời điểm và hậu quả xảy ra. Đó mới là những dữ kiện có ý nghĩa trực tiếp đối với việc định tội, định khung.
GIA ĐÌNH NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI KHÔNG YÊU CẦU XỬ LÝ THÌ VỤ ÁN CÓ ĐƯỢC ĐÌNH CHỈ KHÔNG?
Đây cũng là một hiểu nhầm rất phổ biến. Nhiều gia đình sau khi biết hai người yêu nhau thật sự, hoặc sau khi hai bên thỏa thuận bồi thường, thường viết giấy “không yêu cầu xử lý hình sự” rồi cho rằng vụ án chắc chắn phải kết thúc. Nhưng việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại chỉ áp dụng đối với những tội danh và trường hợp mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể, chứ không phải tất cả tội phạm liên quan đến quan hệ tình dục.
Do đó, không thể suy luận rằng chỉ cần gia đình người dưới 16 tuổi rút đơn là người bị tố giác chắc chắn không bị xử lý. Trong một vụ việc cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ tội danh, chứng cứ và quy định tố tụng hiện hành để quyết định có căn cứ khởi tố, tiếp tục điều tra hay đình chỉ hay không. Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành đã được hợp nhất tại Văn bản số 104/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025.
Việc gia đình có đơn xin giảm nhẹ, người bị hại hoặc đại diện có quan điểm xin giảm hình phạt, người thực hiện tự nguyện khắc phục hậu quả hoặc có những tình tiết nhân thân khác có thể có ý nghĩa trong quá trình giải quyết vụ án nếu thuộc căn cứ pháp luật, nhưng phải phân biệt rõ giữa căn cứ không truy cứu trách nhiệm hình sự và tình tiết được xem xét khi quyết định hình phạt. Hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau.
NGƯỜI 18 TUỔI VÀ BẠN GÁI 15 TUỔI YÊU NHAU: CHỈ HƠN NHAU 3 TUỔI CÓ ĐƯỢC NGOẠI LỆ KHÔNG?
Đây là câu hỏi rất thực tế. Ví dụ, nam vừa tròn 18 tuổi, nữ 15 tuổi 11 tháng, hai người học gần nhau, yêu nhau tự nguyện và chỉ chênh lệch hơn hai tuổi. Nhiều người cho rằng khoảng cách tuổi rất nhỏ thì đương nhiên phải được miễn trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, Điều 145 hiện hành xác định mốc pháp lý bằng tuổi cụ thể: chủ thể là người đủ 18 tuổi trở lên và người còn lại từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Điều luật không đặt ra một ngoại lệ chung theo kiểu “chênh nhau dưới 3 tuổi thì không phạm tội”. Vì vậy, không nên tự tạo ra một “khoảng cách tuổi an toàn” mà pháp luật Việt Nam không quy định trong Điều 145.
Đây cũng là lý do phải tính tuổi chính xác tại thời điểm xảy ra hành vi, không chỉ nói chung chung rằng “hai người hơn kém nhau khoảng ba tuổi”. Nếu người thực hiện lúc đó vẫn 17 tuổi thì riêng dấu hiệu chủ thể của Điều 145 chưa được đáp ứng; nhưng nếu hành vi tiếp tục xảy ra sau ngày người này đủ 18 tuổi trong khi người kia vẫn chưa đủ 16 tuổi thì việc đánh giá pháp lý có thể thay đổi.
NẾU ĐÃ BỊ TỐ GIÁC, GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI LIÊN QUAN CẦN LÀM GÌ?
Đối với vụ việc liên quan đến người dưới 16 tuổi, điều đầu tiên không nên làm là thỏa thuận lời khai, xóa tin nhắn hoặc tìm cách yêu cầu người chưa thành niên khai lại theo hướng có lợi cho một bên. Những hành vi này có thể làm vụ việc phức tạp hơn và ảnh hưởng đến việc đánh giá chứng cứ.
Thay vào đó, cần xác định chính xác ngày sinh của hai người, ngày xảy ra từng hành vi, mối quan hệ giữa hai bên, hoàn cảnh xảy ra sự việc, có hay không vũ lực hoặc đe dọa, có sự lệ thuộc hoặc quẫn bách hay không, số lần xảy ra, có thai hoặc hậu quả sức khỏe hay không. Đồng thời nên bảo toàn dữ liệu có sẵn như tin nhắn, cuộc gọi, hình ảnh và những tài liệu hợp pháp khác thay vì tự ý chỉnh sửa hoặc xóa bỏ.
Đối với người bị tố giác, luật sư cần tham gia sớm để xác định đúng tội danh và bảo đảm quyền tố tụng. Nếu người thực hiện chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm hành vi xảy ra, đây là dữ kiện phải được làm rõ ngay. Nếu có căn cứ chứng minh không xảy ra hành vi như tố giác, cần tập trung vào chứng cứ khách quan. Nếu hành vi có xảy ra và người thực hiện đã đủ 18 tuổi, cần xác định liệu vụ việc thuộc Điều 145 hay có dấu hiệu của Điều 142, Điều 144 hoặc trường hợp pháp lý khác, sau đó mới xây dựng hướng bảo vệ phù hợp.
LUẬT SƯ CÔNG TÂM HỖ TRỢ GÌ TRONG VỤ VIỆC QUAN HỆ VỚI NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI?
Những vụ việc này rất nhạy cảm và chỉ cần hiểu sai một mốc tuổi cũng có thể dẫn đến nhận định sai về tội danh. Luật sư trước hết phải dựng lại dòng thời gian của vụ việc: ngày sinh hai bên, ngày bắt đầu quan hệ tình cảm, từng thời điểm xảy ra hành vi, tuổi của mỗi người tại từng thời điểm và hậu quả thực tế.
Tiếp theo, luật sư cần phân biệt rõ bản chất của hành vi. Nếu hoàn toàn tự nguyện thì phải xem xét các dấu hiệu của Điều 145 khi chủ thể đủ 18 tuổi. Nếu có dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ hoặc ép buộc người lệ thuộc, quẫn bách thì phải nghiên cứu các điều luật khác tương ứng. Nếu người thực hiện chưa đủ 18 tuổi, cũng không được máy móc áp dụng Điều 145 mà phải đánh giá lại toàn bộ căn cứ pháp lý.
Trong trường hợp đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, luật sư tiếp tục rà soát đúng khoản áp dụng, số lần thực hiện hành vi, hậu quả, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội theo đúng quy định. Luật sư không thể biến một hành vi đã cấu thành tội phạm thành “không phạm tội” chỉ bằng việc hai gia đình hòa giải, nhưng có thể bảo đảm người bị buộc tội không bị quy kết sai tội danh, sai khung hoặc sai vai trò.
“TỰ NGUYỆN” KHÔNG PHẢI LÀ CÂU TRẢ LỜI DUY NHẤT – PHẢI NHÌN VÀO TUỔI CỦA CẢ HAI BÊN
Đối với câu hỏi “Dưới 16 tuổi mà hai bên tự nguyện quan hệ có phạm tội không?”, không thể trả lời đơn giản rằng “có” hoặc “không” mà không biết tuổi chính xác của hai người. Có thể ghi nhớ theo ba trường hợp cơ bản: Người dưới 13 tuổi: việc nói trẻ “tự nguyện” không phải căn cứ để hợp pháp hóa hành vi tình dục; cần đặc biệt xem xét Điều 142 BLHS.
Người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi + người còn lại đủ 18 tuổi trở lên: dù quan hệ tự nguyện, người từ đủ 18 tuổi vẫn có thể bị truy cứu theo Điều 145, với khung cơ bản từ 01 năm đến 05 năm tù; các tình tiết như phạm tội hai lần trở lên hoặc làm nạn nhân có thai có thể đưa hành vi vào khung hình phạt nặng hơn.
Hai bên đều chưa đủ 18 tuổi: không thể chỉ dựa vào việc một người dưới 16 tuổi để áp dụng Điều 145, bởi điều luật này yêu cầu người thực hiện phải đủ 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, nếu có cưỡng ép, vũ lực hoặc dấu hiệu của tội phạm khác thì vẫn phải xem xét theo quy định tương ứng.
Vì vậy, đừng chỉ hỏi: “CÓ TỰ NGUYỆN KHÔNG?” Mà phải hỏi đầy đủ: “NGƯỜI THỨ NHẤT BAO NHIÊU TUỔI – NGƯỜI THỨ HAI BAO NHIÊU TUỔI – HÀNH VI XẢY RA VÀO NGÀY NÀO – CÓ THỰC SỰ TỰ NGUYỆN KHÔNG – XẢY RA BAO NHIÊU LẦN – CÓ HẬU QUẢ GÌ?” Chỉ khi xác định được những yếu tố đó mới có thể đánh giá chính xác trách nhiệm hình sự.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Địa chỉ: Tầng 6, số 141 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, Hà Nội.
Hotline hỗ trợ 24/7: 0972 810 901 – 0969 545 660
Website Luật Công Tâm
Email: [email protected]
