1. Khái niệm

Đình chỉ giải quyết vụ án hình sự là quyết định chấm dứt mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng đối với toàn bộ vụ án hoặc với từng bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng. Vụ án nếu đã có quyết định đình chỉ thì không được phục hồi điều tra, truy tố, xét xử.

2. Đặc điểm

Một là, Việc đình chỉ vụ án hình sự phải dựa trên căn cứ, thẩm quyền và trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hai là, đình chỉ vụ án hình sự là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng trong một giai đoạn tố tụng cụ thể, dẫn đến hậu quả là mọi hoạt động tố tụng đều phải chấm dứt.

Ba là, đình chỉ vụ án hình sự là quyết định tố tụng được áp dụng trong các giai đoạn khác nhau, bao gồm: đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố, đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm, đình chỉ vụ án trong giai đoạn tái thẩm.

3. Khi nào đình chỉ vụ án hình sự.

3.1. Giai đoạn truy tố.

Căn cứ quy định tại Điều 248 BLTTHS quy định Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các trường hợp sau:

Trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hai khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Vụ án đã được khởi tố, điều tra nhưng quá trình điều tra đã xác định được vụ án đó thuộc trường hợp không được khởi tố vì có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 BLTTHS như sau:

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.”

Có căn cứ xác định người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Người phạm tội có căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự, như: khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, nguwoif phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm.

Khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

3.2. Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợ sau:Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

3.3. Giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Thẩm quyền đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là Hội đồng xét xử phúc thẩm.

 Các căn cứ đình chỉ vụ án: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

3.4. Giai đoạn giám đốc thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các trường hợp quy định tại Điều 157 BLTTHS

3.5. Giai đoạn tái thẩm

Trong giai đoạn tái thẩm, Hội đồng tái thẩm có thể ra quyết định định chỉ trong các trường hợp sau: Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.

By Tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

0972810901