1. Khái niệm

Căn cứ Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/04/2017 có quy định:

Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu”

Căn cứ Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/04/2018 quy định:

“Các trường hợp được coi là phạm tội lần đầu và có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Trước đó chưa phạm tội lần nào;

b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự;

c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng;

d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích”

Cũng tại Nghị quyết này có quy đinh:  phạm tội lần đầu là một trong những điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, có thể hiểu phạm tội lần đầu là việc một người chưa phạm tội lần nào từ trước đến nay hoặc có phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc thuộc trường hợp được coi là không có án tích.

2. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sau đây gọi chung là BLHS) là một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, theo công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC, có hai trường hợp phạm tội được coi là phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đó là:

  • Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;
  • Phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu, không đáng kể trong vụ án có đồng phạm.

Theo đó, Tòa án chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” khi có đủ 02 yếu tố “phạm tội lần đầu” và “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Nếu bị cáo phạm tội lần đầu mà không phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc ngược lại phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng lần phạm tội này không phải là phạm tội lần đầu thì không áp dụng để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

3. Mối quan hệ giữa phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Thứ nhất: Thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, có Toà án chỉ xác định  “bị cáo phạm tội lần đầu” mà không xác định xem bị cáo phạm tội có thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hay không; có Toà án cho rằng bị cáo có nhiều hành vi phạm tội cùng một tội, nhưng nếu tách riêng từng hành vi ra thì chưa cấu thành tội phạm và tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng nhưng Toà án lại cho rằng bị cáo phạm tội nhiều lần chứ không phải là phạm tội lần đầu.

Thứ hai: Về trường hợp ít nghiêm trọng, thực tiễn xét xử hầu hết các Toà án chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng tức là tội mà họ bị truy tố, xét xử có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù, rất ít trường hợp Toà án áp dụng đối với những tội nghiêm trọng, chưa có trường hợp nào Toà án áp dụng đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ ba: Tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” chỉ được áp dụng đối với rất ít trường hợp, vì BLHS chỉ có một số tội phạm nhà làm luật quy định “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”.

By Tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

0972810901